AABA
Bài Viết23/07/2009Khoảng 16 phút đọcGiọng đọc tự động · 12:37

Nói Cho Những Hiền Giả Minh Triết Có Sứ Mệnh

Quý vị chú ý điều này! Khi một người bị bệnh hay người già hay người đang sống bình thường… thì đều sợ chết cả. Khi nói, khi bàn và nghĩ tới cái chết thì ai cũng rất sợ. Vậy quý vị giải quyết làm sao? Giúp họ mở tầm nhìn như thế nào? Đây là vấn đề đi sâu vào bên trong. Con người bất sinh bất diệt và con người sinh diệt Quý vị đã đọc nhiều bài viết cũng như đã nghe nhiều bài giảng của thầy. Quý vị hãy chỉ cho họ biết thế này: Trong con người của họ có hai con người, một con người có sinh, có diệt, có sống, có chết và một con người bất tử. Vấn đề này chưa phải là sâu nhưng khi quý vị truyền giảng đến nó thì cũng đã rất sâu. Quý vị chỉ cần giảng một cách rất đơn giản là: “Trong con người họ có hai con người, một con người bất tử và một con người có sinh có tử”. Con người bất sinh bất diệt Con người bất tử là con người như thế nào? Ví dụ, quý vị đói bụng thì biết đói bụng và cần ăn cơm. Hay biết đi qua phải, qua trái, giữ đúng luật, biết chuyện này, chuyện kia… Như vậy, con người chỉ có biết không thôi chính là con người bất tử. Khi đau thì biết đau, sắp chết thì biết sắp chết, đau chỗ nào thì biết mình đau ở đó, đang thương, đang giận ai đó thi biết đang thương, đang giận hay đang buồn thì biết đang buồn về chuyện gì, đang lo lắng thì biết đang lo lắng chuyện gì… Con người chỉ có biết không thôi là con người thật của mỗi người và con người ấy bất tử, không chết. Con người sinh diệt Còn con người có cảm xúc lo, buồn, sợ, bệnh hoạn… là con người có sinh, có diệt. Như vậy, nếu có chết thì con người có sinh, có diệt. Chết tức là cảm xúc, nỗi buồn, niềm vui, thân xác sẽ chết. Thân xác được sinh ra rồi vận hành, bệnh hoạn, trục trặc, thông đạt rồi cuối cùng bắt buộc phải chết, không có cách nào khác. Nhưng bên cạnh cái chết ấy, có một con người không bao giờ chết và đó chính là con người thật. Do đó, cùng lắm có chết là chết suy nghĩ, lo sợ, niềm vui, nỗi buồn, thân tứ đại chứ chắc chắn không bao giờ sự biết có thể chết. Và sự biết cũng chính là con người thật của tất cả mọi người. Biết được như vậy thì đừng bám vào con người sinh diệt nữa. Nếu lỡ con người sinh diệt chết đi thì thôi vì vẫn còn con người bất tử. Nếu con người sinh diệt còn mạnh khoẻ, giữ được lành mạnh thì thưởng thức thêm. Lỡ không giữ con người sinh diệt lành mạnh được nữa thì tuy cái xác chết đi nhưng con người thật vẫn ở đó. Ở bất cứ chỗ nào, trời nào, cõi nào cũng có con người thật ở đó và nó không ở trong một không gian, khu vực địa lí, khoảng thời gian cụ thể nào. Con người Biết tồn tại không bị ảnh hưởng bởi thời gian, không gian và không hề có tuổi. Cách thức và mục đích trả lời về bản thân Có người hỏi thầy, năm nay thầy đã bao nhiêu tuổi? Trước câu hỏi như vậy thì tuỳ người hỏi mà thầy trả lời. Đối với người kém quá thì trả lời “thầy không nhớ”. Còn người mà thầy muốn độ thì trả lời bằng một câu hỏi. Đối với người khá khá rồi thì trả lời, làm sao thầy biết được tuổi của thầy. Cũng có người hỏi thầy sinh ở đâu? Và cũng tuỳ người hỏi mà thầy trả lời hay hỏi ngược lại họ là, “hỏi làm gì vậy?” Hoặc thầy trả lời là “tôi không nhớ”, hoặc “trong kiếp này tôi tái sinh lại ở vùng đất đó, trên làng đó, trên đất nước đó và với màu da, tướng tá, vóc dáng như vậy…. Về mặt hình thù, tôi là một con người mang hình tướng như vậy, nhưng con người thứ hai hay con người thật của tôi thì quý vị không thể thấy được”. Hoặc thầy trả lời cách khác là, “tôi có sinh ra đâu… tôi là người không sinh, không diệt thì tôi sinh ra chỗ nào?” Hoặc thầy trả lời, “tôi là người không có lịch sử, người không có tên, không có quê hương xứ sở nào cả… Như vậy, tuỳ trường hợp mà thầy trả lời để độ họ. Đối với trường hợp trả lời với các cơ quan hành chính thì không được trả lời như vậy, mà phải trả lời một cách rõ ràng vì với cơ quan “giấy tờ” thì phải bằng giấy tờ. Còn các cách trả lời khác là để độ người, giúp người ta mở tâm, mở trí chứ không phải trả lời để biểu diễn mình là người cao siêu. Đối với những người có duyên, quý vị cần giúp họ không chấp vào tướng nữa thì trả lời theo cách thầy vừa nêu. Còn đối với các cơ quan hành chính hay những người mà quý vị không muốn giúp họ khai tâm mở trí và họ cũng không quan tâm đến, thì quý vị trả lời và xư xử theo kiểu giấy tờ hay bình thường. Nhưng quý vị đừng bao giờ nói tới đời sống riêng của mình. Bời vì, khi nói tới đời sống riêng thì không khác gì quay trở về bản ngã. Cho nên, không cần nói tới đời sống riêng như kiểu, tôi thế này, tôi thế kia… Tức là không cần đề cập đến đời sống riêng. Càng đề cập đến đời sống riêng thì bản ngã càng lớn và quý vị càng sa vào sự bế tắc. Hai con người trong một Thầy nói tới một số kinh nghiệm, kĩ thuật để quý vị bắt đầu tập ứng xử. Ví dụ, khi người khác gọi tên thì quý vị biết mình có tên cha mẹ đặt. Nhưng trước khi cha mẹ đặt tên thì rõ ràng quý vị không có tên. Tức là khi nằm trong bụng mẹ là chưa có tên. Có nghĩa, trước khi có tên thì quý vị ở trong giai đoạn chưa có tên. Như vậy, trước giai đoạn chưa có tên thì quý vị là ai hay là gì? Trước giai đoạn chưa có tên không có gì hết, tức là trước khi hình thành bào thai thì không có gì hết. Khi có bào thai thì có tên “bào thai”, bào thai trưởng thanh và quý vị được sinh ra. Lúc này, quý vị có tên do cha mẹ đặt là tên để chỉ về lịch sử của con người hình tướng. Bên cạnh đó, quý vị lại có con người thứ hai là sự linh thiêng, màu nhiệm, tính lanh lợi, tính linh… Con người này không có tên gọi, cha mẹ không thể sinh ra được. Khi đủ tất cả các duyên thì hiện ra, khi không đủ các duyên thì không hiện ra. Khi đạt tới trình độ đó thì quý vị sẽ thấy, bản thân vừa là con của cha mẹ mình nhưng lại có một phần không phải của cha mẹ. Quý vị tập thấy như vậy nhiều thì sẽ đi vào được đời sống vô tướng. Sự thật về nỗi khổ đau Một người bắt đầu đi vào được đời sống vô tướng thì tâm sẽ sáng ra, đầu óc bừng sáng ra, biết cách sống mà không bị vướng vào hình tướng, khái niệm của thế gian. Còn ở thế gian, những người đau khổ, không an tâm vì vướng vào khái niệm, quan điểm, chữ nghĩa… của cuộc sống. Ví dụ, khi họ nói con mình phải là bác sĩ, phải là kĩ sư… là quan niệm cuộc đời của xứ nghèo và họ thấy tự hào khi con họ trở thành như thế. Còn đối với những xứ khác thì chắc những người làm cha mẹ không nghĩ con mình phải như vậy. Như vậy, họ bị vướng vào những quan niệm, truyền thống, tư tưởng, xu hướng… nên khi con họ không làm được bác sĩ, kĩ sư… thì họ đau khổ vô cùng. Chuyện đau khổ ấy không hề có thật mà khổ đau là do bị vướng vào quan niệm. Vậy thì, khổ đau có nhưng sự thật là không có. Có là do bị vướng vào quan niệm rằng con mình phải học làm bác sĩ, kĩ sư… Nhưng sự thật hoàn toàn không có khổ đau nếu người ta thay đổi cách nhìn. Có vị hỏi thầy, nỗi khổ có hay không? Người như vậy thì không đủ trình độ để tiếp nhận câu trả lời của thầy. Nỗi khổ có hay không có? Nếu thầy trả lời có thì họ cũng thắc mắc mà thầy trả lời không thì họ cũng thắc mắc là tôi đang lo, đang khổ thật. Hoặc thầy nói không thì họ bảo là làm sao cho tôi thấy là không. Thành ra, họ không đủ trình độ để mở được tầm nhìn. Cuộc đời như vậy là như vậy. Chuyện khổ, chuyện vui là do người ta đã gắn quan niệm hay ý tưởng đại loại như, tôi phải có biệt thự mới vui, còn ngôi nhà lẹp xẹp thì không vui vì phải dấu mọi người, không giám nói và thấy khổ tâm… Chuyện có khổ là do kinh nghiệm, quan niệm đã tạo ra quan niệm khổ, còn cuộc đời không liên quan đến khổ hay không khổ. Khổ đau không có nhưng tại vì cứ bám vào quan niệm đó nên khổ. Ví dụ, vì cho rằng mình là bác sĩ nên phải ở ngôi nhà sang trọng, nếu không ở ngôi nhà như vậy thì xấu hổ quá. Trong khi đó, ở ngôi nhà sang trọng thì khó khăn đủ chuyện, nếu cố gắng giữ như vậy sẽ khổ. Còn sự thật không khổ có nhưng do quan niệm của bản thân đã tạo ra khổ. Khổ có là được tạo ra từ quan niệm chứ không phải cuộc đời khổ thật. Trường hợp khi sinh ra, vì nguyên nhân nào đó mà cơ thể bị bệnh. Giống như cô Tuệ Từ, mỗi một tuần phải đi chạy thận 3 lần… là chuyện khổ của tứ đại, của thân xác chứ không phải về tinh thần. Nhưng thân tứ đại khổ thì tự nhiên kéo theo tinh thần cũng khổ. Cho nên, phải cố gắng tách ra vì phần phải xử lí là về mặt tinh thần. Tức là, quý vị đi làm công việc trao chuyền tâm linh là giải quyết phần tinh thần, không phải giải quyết phần vật lí. Phần vật lí thì để cho các lĩnh vực chuyên môn giải quyết, quý vị không can thiệp vào. Mục đích của Minh Triết là giúp người khác an tâm Thầy nhắc lại sứ mệnh quý vị đi trao truyền tâm linh hay khai mở tâm linh là giúp cho những người chung quanh, giúp cho những người có nhân duyên được yên tâm, an tâm trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả hoàn cảnh chưa thay đổi nhưng họ vẫn yên tâm. Không phải hoàn cảnh thay đổi rồi mới yên tâm. Ví dụ như Tuệ Từ, trong khi bệnh vẫn còn nguyên, vẫn chạy thận nhưng vẫn hoàn toàn bình yên! Quý vị đừng sợ mà phải dám đối mặt với sự thật. Nếu quý vị né tránh sự thật thì sẽ gây sốc về tinh thần và làm cho căn bệnh phát triển thêm. Cho nên, không trốn tránh sự thật. Ai có bản lĩnh, giám đối mặt, nhìn thẳng với sự thật thì sẽ an tâm. Và sự an tâm sẽ chiếu rọi lại sự thật và tự động sẽ làm cho sự thật tốt hơn. Một người làm công việc trao truyền Minh Triết thì bản chất, nhân cách phong cách, phong độ như thế nào? Tâm hết sức rộng lớn, không ghen tức, không sợ người khác hơn mình, không ích kỉ, không hẹp hòi, không bỏn xẻn…. Sẵn sàng thông cảm, tha thứ, lắng nghe, tôn trọng và khuyến khích người khác chứ không nói họ hay hay dở… Cách tốt nhất là khuyến khích, động viên và dùng những lời nói dễ nghe, dễ chịu, ngọt ngào… Bởi vì, con người ta dở hay hay thì cũng rất khó nói chuyện, năm nay họ dở, sang năm họ hay hoặc bây giờ hay nhưng sang năm dở… Cho nên, điều cần làm là giúp họ yên tâm! Bên cạnh việc giúp người khác yên tâm, quý vị dùng lời lẽ, cử chỉ, làm việc hết mình, làm việc bằng con tim và dùng lời lẽ làm họ yên lòng. Quý vị phải nhớ đây là một điều rất quan trọng! Bởi vì, khi động tới bất kì chuyện gì trong cuộc đời cũng làm người ta nhức đầu. Cho nên, người ta luôn luôn đầy rẫy sự nhức đầu. Quý vị là những người đi làm công việc trao truyền Minh Triết mà khi họ gặp quý vị học lại nhức đầu thì không được. Thực hành pháp bố thí Sứ mệnh của quý vị là giúp người khác hết nhức đầu và khi gặp quý vị thì họ thấy nhẹ nhàng, dễ chịu… Như vậy, trong cách cư xử, quý vị cố gắng nói cho người ta dễ nghe, động viên, khen ngợi... Ví dụ, như cô Phật Tuệ ở Nauy, có thể nói cô là cha đẻ của vấn đề nói chuyện làm cho người khác vui lòng. Ai nói gì thì nói, làm gì thì làm, cô cũng nói để làm họ vui lòng! Quý vị cũng phải như vậy, đối với bất kì người nào cũng nên làm họ vui lòng, chỉ có khen mà không chê. Thành ra, làm công việc này vừa vất vả nhưng lại vui và phải mở tâm thì mới làm được, không mở tâm thì rất khó làm. Việc khen người khác là rất khó! Tức là việc thực hành bài pháp “chỉ khen người khác”, nâng người khác lên… là một chuyện rất khó! Có thể nói đây là một trong những bài pháp bố thí. Tức là, quý vị chỉ khen, chỉ động viên rồi đưa họ lên. Quý vị tập như vậy! Đối với quý vị thì 98% là thầy khen, còn 2% là thầy lột mắt quý vị ra. Bởi vì, có lột con mắt, quý vị có đau thì mới sáng ra. Và thầy biết cách lột để quý vị sáng mắt và ở mức độ nào thì chấp nhận được cơn đau đó mà không sao cả. Trong vấn đề này thầy rất bình tĩnh sáng suốt. Nhưng quý vị đối với người khác thì không thể làm như vậy được, mà gần như 100% là khen. Chỉ khi họ lên được trình độ gần như quý vị thì mới lột xác và lột xác tình thần họ trong những lúc uống trà, bữa ăn, dạo chơi ngoài bờ biển… Tức là quý vị lột xác họ trong tinh thần rất văn minh, lịch sự và yêu thương! Quý vị cứ tập rồi sẽ thấy rất lí thú! Cô đơn và tình thương Đới với chúng sinh, quý vị cần phải biết là, chúng sinh rất cô đơn và thiếu tình thương! Quý vị phải nhớ điều này! Mặc dù họ có cha mẹ, có anh em, có bạn bè nhưng vẫn cơ đơn và vẫn thiếu tình thương. Như vậy, ngoài không an tâm thì chúng sinh có nỗi khổ thứ hai là cô đơn và thiếu tình thương. Quý vị phải nhớ nằm lòng câu nói này của thầy! Bởi vì, thầy thấy rõ tất cả, không có gì không thấy nhưng lúc nào nói, nói như thế nào và nói với ai thì tuỳ Còn những điều thầy vừa nói cho quý vị là nói cho người có sứ mệnh, để giúp người khác vượt qua khổ đau bằng con đường Minh Triết. Cho nên, quý vị cần phải thấy nỗi khổ thứ hai của tất cả mọi người là ai cũng cô đơn và thiếu tình thương. Dù họ có cuộc sống đầy đủ và với nhiều người, sống với vợ, chồng, con cái, cha mẹ, bè bạn… họ vẫn cô đơn và vẫn thiếu tình thương. Cho nên, nhiệm vụ, sứ mệnh của quý vị là lấp lỗ trống này cho họ. Giống như quý vị cung cấp một năng lượng để họ hết cô đơn, hoặc cung cấp một năng lượng để họ cảm thấy không còn cô đơn nữa. Đây là điều quý vị phải thấy thật rõ, thuộc nằm lòng và luôn luôn để trong con tim hình ảnh của chúng sinh! Hình ảnh đó là luôn luôn không an tâm, không được yên và luôn luôn cô đơn và thiếu tình thương. Quý vị phải luôn thấy hình ảnh đó của người khác trong trái tim mình. Để từ đó, quý vị trang trải năng lực phật tính ra thông qua thân tứ đại, mà không phải dùng đầu óc suy nghĩ. Nếu dùng đầu óc để trang trải là không đúng, mà phải mượn thân tứ đại để trang trải năng lực phật tính và trào ra từ con tim. Đó là mấu chốt quý vị phải nắm thật chắc, thuộc nằm lòng và bắt đầu thực tập. Quý vị chú ý, luôn luôn không an tâm và luôn cô đơn cùng với thiếu tình thương là hai điểm không sai với bất kì người nào. Người đang làm vua, đang có quyền lực như vậy nhưng chắc chắn vẫn không an tâm, vẫn cơ đơn và vẫn thiếu tình thương . Đó là hai điểm mà quý vị cần phải nắm chắc. Điểm thứ 3 về chúng sinh cũng đáng thương mà quý vị cần phải nắm được và cần phải giải quyết cho họ là, mọi sự rắc rối của chúng sinh đều từ suy nghĩ trong đầu óc họ mà ra. Hôm nay, thầy trao đổi sơ qua về một số khái niệm để quý vị biết được sứ mệnh của mình sẽ làm gì và cách thức làm việc như thế nào. Cầu nguyện quý vị thực hiện tốt vai trò và sứ mệnh của mình! 23/07/2009 BBT
AABA · Lưu giữ những sự thấy và cảm hứng của Aaba.