Ứng Dụng Chân Lí Bát Nhã Tâm Kinh Vào Đời Sống
Gửi các đệ tử chân chính tu hành!
Kinh phải được ứng dụng trong đời sống hàng ngày để lợi lạc nhất cho cá nhân mình, cho cộng đồng mình chứ kinh không phải để đọc, để hiểu, để thờ, để ca tụng tán thán. Cũng giống như mặt trời xuất hiện thì con người phải biết sử dụng ánh sáng khi nó mới mọc, khi nó ở gữa trưa, khi nó sắp lặng. Ngay như bóng đêm cũng vậy, khi nó xuất hiện thì con người cũng phải biết sử dụng nó thế nào cho có lợi nhất cho mình huống gì mặt trời.
Con người cũng không cần phải đem mặt trời ra mà phân tích, nghiên cứu, giải nghĩa, luận bàn. Nhìn thấy mặt trời là để dùng ánh sáng của nó chứ cũng không phải dùng mặt trời.
Vì vậy, thầy khuyên quý vị khi đọc một lời kinh, nghe một lời giảng là coi thử mình có áp dụng được gì không chứ đừng quá để tâm đến việc hiểu để nói lại, đừng quá quan tâm đến việc hiểu như vậy có đúng hay không đúng. Phải lấy kinh nghiệm lợi ích cuộc sống mà đo lường việc học kinh.
Phải hết sức thực tế thì mới ích lợi, mới xâm nhập chân lý để nâng chất lượng đời sống ngày càng cao hơn về cả tinh thần lẫn vật chất, mà tinh thần là chủ yếu.
Không cần phải suy nghĩ hay thắc mắc rằng mình hiểu mặt trời chưa, hiểu đúng hay không đúng mà vấn đề là mình có biết sử dụng và khai thác tối đa ánh sáng của mặt trời như thế nào. Có biết dùng để trồng trọt, để phơi sấy những thứ cần thiết, để lấy các chất dưỡng khí trong đó, hay lấy các năng lượng trong đó mà phục vụ lợi ích cho đời sống.
Học các lời kinh cũng như vậy.
Bây giờ đi vào bài kinh Bát Nhã Tâm Kinh.
Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.
Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.
Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.
Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
(Bản dịch của Bình ANSON-online)
Đâu là ánh sáng của bản kinh này?
Là cái nhìn không chấp.
Nhìn thấy như thật và xa lìa sự tưởng tượng.
Nhìn từ một kinh nghiệm tâm rộng lớn không giới hạn.
Từ chỗ rộng lớn, chỗ thông thoáng mà nhìn để vượt qua lòng chấp.
Nhìn vượt thời gian, vượt không gian mới không bị các chuyện ở đời bức bách.
Hãy sử dụng cái nhìn, điều chỉnh cách nhìn sao cho mình không cảm thấy bế tắc, đau buồn, phiền não hay sợ sệt.
Cùng hoàn cảnh như nhau, nhưng người khổ và người không khổ, người sợ sệt và người không sợ sệt là do cách nhìn mà ra.
Hồi xưa kia, khi tôi cảm thấy khó chịu trong tâm là tôi quán thấy ngay mình đã có cái nhìn việc đời theo lợi ích cá nhân của mình. Mình cho rằng mình quan trọng quá, thân mình quan trọng quá, sự hiểu biết của mình quan trọng quá. Chính vì mình thấy mình quan trọng quá, hay quá, đúng quá nên mình cảm thấy bực bội, khó chịu, sợ sệt, ghét gỏng, buồn phiền, khổ đau. Cứ như cách quán chiếu ấy mà tôi tu hành hàng ngày để vượt qua các sự buồn phiền, sợ sệt, khó chịu.
1.Mở đầu bản kinh là Ngài Bồ-Tát Quán Tự Tại từ tuệ bát nhã nhìn sắc, thọ, tưởng, hành và thức đều là không nên vượt qua sự sợ hãi, sự khổ đau, sự bế tắc về con đường hành đạo của mình. Bồ tát là người lấy sự chứng vô thượng chính đẳng chính giác để cứu độ chúng sinh làm mục đích của mình. Vì thế cho nên một vị Bồ-Tát không tính chuyện tu giải thoát để không còn tái sinh nữa mà phải trở đi trở lại cuộc đời này để mà kề cận chúng sinh nâng đỡ họ cùng chứng đạo vô thượng không còn sống khổ đau nữa.
Vậy, Bồ Tát phải có cái nhìn về mình, về chúng sinh như thế nào để bền gan bền chí, không sợ gian khổ mà chịu đựng với cuộc sống đầy phiền não của cõi Ta-Bà này? Bồ Tát nhìn mình và nhìn chúng sinh từ tuệ bát nhã.
Chúng ta dễ thấy có các cách nhìn sau đây:
- Từ kinh nghiệm cuộc sống mà nhìn: Ví dụ, một trẻ thơ 2 tuổi chưa bao giờ hiểu thế nào là một người còn sống và một người đang chết thì khi nó thấy một người đang chết nó sẽ không nói là chết và vì vậy nó không có cảm xúc khổ đau như người lớn. Nếu nó đã có kinh nghiệm thấy một người quen của nó nằm nhắm mắt ngủ trên giường, nay lại nằm trong một cái thùng gỗ mà nhắm mắt thì nó nói là đang ngủ trong thùng gỗ. Đứa trẻ thơ này không sợ sệt, buồn khổ gì cả.
- Từ hơn thua, được mất mà nhìn: Con người có nhiều kinh nghiệm hơn thua, được mất trong đời nên thường nhìn mọi việc theo kinh nghiệm này.
- Từ chấp có hoặc không, chấp sai hoặc đúng theo quy ước cuộc sống mà nhìn.
- Từ chấp lợi hoặc không lợi mà nhìn
- Từ chấp bẩn hoặc sạch, chấp hay hoặc dở, chấp xấu hoặc tốt, chấp ít hoặc nhiều, chấp cao hoặc thấp, chấp chết hoặc sống, chấp ngu hoặc khôn, chấp có người có ta mà nhìn....
Tất cả các thứ chấp này đều xuất phát từ chấp vào hình tướng mà nhìn. Nhìn như vậy là nhìn từ sự chật hẹp của tâm. Khi mình đứng dưới đất thì thấy miếng đất, cái nhà này to hoặc nhỏ, nhưng khi ngồi trên máy bay thì thấy mọi thứ bên dưới đều nhỏ. Ngồi trên máy bay mình nhìn xa hơn, rộng lớn hơn nên cảm thấy dễ chịu hơn. Người đã đi năm châu bốn biển sẽ có cái nhìn rộng lớn hơn người chưa đi đâu bao giờ. Người chưa đi đâu bao giờ thì họ sẽ có cái nhìn trong thế giới họ sống và cứ chấp vào đó mà xử thế với đời. Còn người đã từng đi năm châu bốn biển thì có cách xử thế thông thoáng hơn nhiều.
Nếu giả định nay mai con người có thể dạo chơi đến nhiều hành tinh khác, chứng kiến nhiều cuộc sống khác thì tâm của con người sẽ thông thoáng hơn nhiều, sẽ bớt chấp vào thực tế hình tướng chung quanh mình. Lúc ấy, do họ có dịp chứng kiến nhiều chuyện chưa từng thấy nên họ sẽ không còn chấp vào những gì họ đang học, đang thấy, đang nghe và đang hiểu, đang cho là đúng ở đây. Có khi họ sẽ nực cười và ném hết tất cả sách vở, sự hiểu biết và lòng chấp vào hố rác. Còn bây giờ tội nghiệp quá, họ chỉ biết cái ao của họ là số một, không có cái ao nào tốt hơn. Một ngày kia, có dịp thấy cái ao lộng lẫy khác thì họ sẽ thay đổi hoàn toàn thái độ cố chấp của họ.
2.Đoạn thứ hai là đoạn mà Phật giải thích cho Ngài Xá-Lợi Phất về thật tướng của các pháp hữu vi và vô vi. Xá-Lợi-Phất là đại đệ tử của Phật, trước tu theo hạnh chứng A-La-Hán chứ không phải Bồ Tát để thành Phật, nhưng trong kinh Pháp Hoa thì Ngài đã hiểu được thâm ý của Phật là đưa các đệ tử đến quả vị Phật và Phật đã thọ ký Ngài sẽ thành Phật nên Ngài quyết tâm theo con đường ấy và Ngài đã đang ở trong tình huống vào cửa chứng ngộ Chân Tâm, chứng ngộ Bát Nhã tâm hay tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Ở bản kinh này, Phật trợ duyên cho Xá-Lợi-Phất chứng vào Phật đạo từ bỏ các lòng chấp trước đây.
Trong nhiều kinh đại thừa, những bản kinh Phật thuyết để phá lòng chấp thì thường hay nói cho Xá-Lợi-Phất.
Mở đầu bản kinh này là Bồ Tát Quán Tự Tại xuất hiện. Bồ Tát có cái nhìn rộng lớn không chấp vào hình tướng, vào thành bại. Do có cái nhìn không chấp mà vượt qua khổ nạn, không sợ sệt.
Đến đoạn thứ hai thì Xá-Lợi-Phất, người ưa chấp trước đây xuất hiện.
Trong cuộc sống đời thường, hễ ai thường chấp thì khổ lắm! Người ưa chấp thì chỉ nghe và tin những gì mình suy nghĩ và kinh nghiệm mà thôi. Nghe ai nói xấu mình thì khó chịu, ai ca ngợi mình thi vui sướng. Nếu người hiểu rõ tâm địa của con người thì họ thấy rằng tâm chúng sinh sáng nắng, chiều mưa nên ca ngợi cũng không khác gì chê bai. Họ ca ngợi đó rồi họ chê bai đó. Vậy nên khi họ ca ngợi hay chê bai cũng như vậy thôi, đừng lấy làm vui mà cũng đừng lấy làm buồn.
3.Nếu chúng ta ở chỗ không chấp để nhìn thì chẳng những vượt qua sợ sệt, khổ não, mà còn thường phát sinh trí tuệ không khổ đau để ứng xử trong cuộc sống. Và đây cũng là cái nhìn của người chứng được tâm vô thượng chính đẳng chính giác.
4.Chính cái nhìn không chướng ngại, cái nhìn từ sự thanh tịnh của tâm, tập nhìn được như vậy cũng là biết sử dụng thần thông của tâm Phật mà vượt qua mọi chướng ngại ở đời và cũng thật sự đã thoát ra mọi áp bức trói buộc của cuộc đời ngay trong tâm hồn của mình.
Hôm nay thầy viết vội mấy câu như trên để quý thiện hữu tham khảo, thêm lợi ích cho cuộc sống hàng ngày của mình.
A Di Đà Phật!
Hoa-Lan, 6/6/2007
Thầy