Lại Nói Về Bát Nhã Tâm Kinh
(Gửi các đệ tử nhân kỷ niệm ngày tái sanh)
1/Mục đích của kinh là gì?
Ta trở lại vấn đề căn bản mục đích của Đức Phật từ bỏ Hoàng Gia ra đi tìm trí tuệ giúp loài người vượt qua khổ đau. Đây là vấn đề căn bản đừng quên. Phật không có ý hướng trở thành một người khoa học để khám phá và chứng minh những vấn đề tranh luận không trực tiếp vào vấn đề giải quyết bế tắc căn bản của con người. Hãy luôn nhớ điều nầy để tránh việc giảng và hiểu tỏ ra ta là người am hiểu khoa học. Như vậy sẽ xa rời mục đích chính của Phật.
Mục đích của Phật không phải là dẫn dắt con người sắp hàng theo thứ lớp để tiến về nơi thiên đường đâu đó ngoài hành tinh nầy. Ngài cũng không thể chủ trương đưa con người đừng trở lại thế gian nầy nữa. Ngày nay, trí tuệ phổ thông của con người đều biết rằng trong không gian mênh mông không biên giới làm gì có chỗ thấp nhất rồi lên đến chỗ cao nhất. Vì vậy không thể nói có những từng trời.
Đức Phật cũng không đặt vấn đề con người từ đâu đến thì làm gì đặt vấn đề con người sẽ đi về đâu.
Ngài chỉ đặt vấn đề con người cần nhìn rõ chính mình là physical (thể xác) và mental (tinh thần) và dùng trí tuệ gì để giảm khổ đau cho hai yếu tố thể xác và tinh thần.
Tâm con người là chủ của mọi hoạt động của con người. Nhưng tâm thường xuyên bị bất an bởi nhiều thứ bên ngoài và những ý nghĩ bên trong. Tâm ví như nước ở biển. Nước biển sẽ nổi sóng ba đào và gào thét dữ dội khi có gió bão bên trên hay động đất dưới đáy biển. Động đất dưới đáy biển sẽ gây ra nhiều cơn sóng thần chết người và tàn phá nhiều thứ giống như các vụ Sunami vừa qua đã giết chết gần ba trăm ngàn sinh mệnh con người và phá hủy bao nhiêu công trình xây dựng tốn kém của con người. Cũng giống như vậy, những ý nghĩ hay mưu tính triền miên cũng hòanh hành tâm con người đến chỗ điên đảo. Gió bão cũng tạo ra những cơn sóng dữ dội giết người. Những cảnh đời vật chất như sự hấp dẫn của tiền bạc, sự hấp dẫn của tình dục, tiếng tăm, địa vị trong xã hội cũng dễ làm lòng người điên đảo. Nghèo thì khổ đau theo kiểu nghèo, giàu thì khổ đau vì cảnh giàu, đạt được sự thèm khát tình dục thì trả những giá đau đớn riêng cho nó, ở trên ngôi cao là sự đóng góp to lớn cho xã hội nhưng cũng phải trả những giá không nhỏ, người có thiện tâm thì cả đời vất vả công hiến sức lực của mình nhưng lại mang lấy những nỗi niềm riêng oan ức và họ phải âm thầm chịu đựng, người xấu thì địa vị cao cũng chính là địa ngục không lối ra. Cuối cùng thì khi chết chẳng ai được chết bình yên cả. Điều nầy dẫn đến những vấn đề đau đớn cho kiếp sống sau.
Mục đích của Kinh nầy không phải là giúp người tu tập sẽ thành Phật hay đi tới niết bàn theo nghĩa hoang tưởng. Do con người thường không giữ được sự an tâm nên phải nhờ đến kinh nầy. Không phải chỉ có kinh nầy mới giúp sự an tâm, rất nhiều lời kinh trong hầu hết các kinh giúp sự an tâm. Kinh nào cũng cao quý và nhất cả. Mỗi thứ thích hợp cho một nhóm người. Chẳng có cái nào cao hơn cái nào. Nhưng khi nhóm nào thấy thích với cụm từ nào với kinh nào có nghĩa là nó phù hợp với họ nên họ quảng bá và ca ngợi. Cũng có khi cũng do ảnh hưởng đời sống kinh tế mà họ lại làm việc “tiếp thị” món mà họ thích. Khi quảng cáo đương nhiên họ phải tìm những chữ hay nhất để diễn tả nó. Chẵng hạn người thích Niệm Phật thì ca ngợi về pháp môn tu tập nầy, người thích niệm chú thì ca ngợi chú, người thích bát nhã thì ca ngợi bát nhã và cứ nói nó là số một. Chẳng có gì là số một, chỉ có ý nghĩ của con người tự cho nó là số một. Do đó, người muốn tu học thường bị mê lầm rồi tu học không kết quả mà lại “tiền mất tật mang”.
Mục đích của Kinh là làm cách nào để tâm con người thường giữ ở mực bình lặng, vì sự bình lặng vô cùng quý báu, nó sẽ thật sự đem lại hạnh phúc đích thực cho con người. Hạnh phúc đích thực là sự bình yên của tâm chứ không thứ gì khác. Hạnh phúc không đến từ sự thỏa mãn về những thứ thuộc vật chất lẫn tinh thần như kiến thức hay bằng cấp.
Mà muốn được như vậy, con người cần có một cái nhìn thật chính xác hay rõ ràng về chính mình và những gì chung quanh mình. Chỉ một cái nhìn chân thật hay rõ ràng lập tức sẽ đem lại sự bình yên.
Tôi nhớ hôm qua có một Phật tử ở Na-Uy có nỗi khổ về chuyện một cậu con trai hơn 30 tuổi do ham chơi với bạn mà tạo ra cảnh bất hòa với vợ và lơ là chăm sóc đứa con thơ. Người mẹ nầy đã vừa làm mẹ lại vừa làm cha và thay mặt các thánh nhân để giáo dưỡng những người con trưởng thành và đều có gia đình riêng. Tuy vậy, người mẹ nầy vẫn thường khổ đau với những người con nầy đến nổi người mẹ nầy đã bỏ nhà ra đi hy vọng khi thiếu vắng tình thương mẹ chúng nó sẽ thay đổi. Chuyện ấy không thành, nhiều lần bà ta muốn tìm đến cái chết. Người mẹ nầy thường đến chùa gặp Sư nghe giảng và cầu nguyện để đủ kiên nhẫn chịu đựng những điều đau lòng. Nhưng kết quả vẫn không thay đổi, người mẹ vẫn khổ đau và muốn bỏ đạo Phật để theo đạo Thiên Chúa vì “Phật và các Bồ Tát không linh”, người ấy nói vậy.
Sau hai lần nghe thuyết giảng qua điện thoại, mỗi lần chừng gần hai giờ đồng hồ. bây giờ người mẹ ấy gọi điện thoại nói cảm ơn tôi vô cùng vì bây giờ “Tâm con hoàn toàn nhẹ nhàng. Bây giờ sao con cảm thấy vui và hạnh phúc quá Thầy ơi. Khi nào Thầy qua Na-uy, xin Thầy nhận các con của con làm đệ tử và Thầy đeo nhẩn cưới lại cho chúng nó để chúng nó có thêm phước báu và hạnh phúc.” Tôi nói là “Khi cô cảm thấy nhẹ nhàng và cảm nhận hạnh phúc dâng trào bên trong sự nhẹ nhàng, tức Phật trí hay trí giải thoát nơi tâm cô đã mở, Thầy chúc mừng.”
Tôi đã dạy gì ? Dĩ nhiên là tôi lắng nghe trước và sau đó biết rằng người nầy đã uổng công học đạo bao nhiêu năm tháng gần một đời người. Người ấy học gì ở các chùa? Nghe giảng và tụng các kinh, đặc biệt là kinh Pháp hoa. Tôi nhớ rất nhiều người gặp tôi kêu than về kinh Pháp Hoa và nói rằng kinh nầy khi trì tụng thì đổ nghiệp và các thầy thường nói vậy nên cố gắng cầu nguyện sự kiên nhẫn để chịu đựng. Tôi dạy người ấy rằng học đạo (theo chữ thường dùng của nhiều người) như đạo Phật thì nên học cách nhìn thông qua cách hành xử của Phật và của vài Bậc Giác Ngộ bắt nguồn từ Phật như đức vua Trần Nhân Tông Việt Nam chẳng hạn. Mà cách hành xử thì nằm trong phần lịch sử của các Ngài. Nếu cứ nghe giảng kinh suông mà không học sâu và thực hành theo gương của các Ngài thì chẳng khác nào mình đi nghe hát. Người ca sĩ có thể chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp cũng chỉ là ca sĩ mà thôi. Họ ca lại những bài ca ngàn năm nhiều người đã ca và họ ca theo cảm giác hay xúc cảm cá nhân của họ. Nghe xong rồi mình về nhớ lại vài chữ, rồi lại tiếp tục ca lại vài chữ đó cho người khác nghe. Do vậy mà bệnh không chữa khỏi.
Đó không phải là tu, đó là đi nghe hát và tập hát rồi cảm thấy có cảm giác lân lân. Lại không hiểu hết bài ca, không cần hiểu tại sao có bài ca nầy. Cứ nghe và cứ ca lại vài chữ mình nhớ. Người hát và người nghe để hát theo đều không để ý đến tại sao lại có bài ca nầy và mục đích của nó là gì để từ đó có thể mình cũng đạt khả năng sáng tác. Trong tôn giáo hay đức tin, khả năng sáng tác quan trong hơn là ca. Nghe ca dĩ nhiên có phần êm tai hơn và dễ hơn nhưng không làm cho ta thay đổi cuộc sống hạnh phúc hơn. Nó chỉ vui tai chứ không hạnh phúc.
Tu là phải tập cho mình có cái nhìn chính xác về thân phận làm người của mình và có cái nhìn chính xác về con người và thế giới chung quanh. Từ cái nhìn chính xác ấy mình sẽ phát sinh trí tuệ và tình thương để thành người sáng tác.
Phật có một người con trai mà dạy dỗ cũng không dễ dàng gì và cũng chẳng thành công gì lớn theo mong muốn của Phật nhưng Ngài cũng chẳng đau xót gì mấy. Hoàng tộc của Ngài bị kẻ thù giết và đập phá hoàng cung nhưng Ngài cũng vẫn thản nhiên lại có chút mỉm cười. Vua Trần Nhân Tông từ bỏ tất cả hoàng hậu, cung phi, con cái để tự mình đóng vai một nhà sư Phật Giáo để hưởng cuộc sống thanh nhàn và sử dụng hình ảnh nhà sư để dạy dỗ đạo đức cho nhân dân và cho cả các nhà sư nữa. Ngoài chuyện ấy ra, Ngài còn có nhiều cách hành xử khác để góp phần làm yên bờ cõi nước Việt xưa kia. Như vậy, các Ngài đã mở ra một cái nhìn giúp các Ngài thoát ra sự khổ đau về tinh thần. Mình tin các Ngài và mong làm đệ tử các Ngài thì phải học cách sống ấy. nếu chưa học nhiều được thì cứ học cách bắt chước các Ngài rồi sẽ quen đi.
2/Tại sao phải học?
Vì để giảm bớt khổ đau do không có cái nhìn chính xác về mình và thế giới chung quanh.
3/Ý chỉ của kinh và học như thế nào?
Học cách nhìn. Muốn vậy phải tìm chỗ đứng chính xác sẽ có cái nhìn chính xác. Mở đầu kinh chỉ nói đến cái nhìn chính xác về chính thân phận của mình. Chỉ có vậy thôi mà đã vượt qua tất cả khổ nạn :
“Quán Tự tại Bồ tát hành thâm bát nhã ba-la mật-đa
thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.”
Bồ Tát Tự Tại từ cõi bát nhã của tâm mà nhìn về thân phận của mình, thấy quá rõ ràng nên chẳng có gì lo lắng nữa trước sự tồn tại của mình và sự tồn tại của thế giới chung quanh. Thấy rõ và giảm thèm khát ham muốn quá nhiều cho mình. Từ đó phát sanh trí giải thoát và tăng trưởng ý chí, tăng trưởng lòng thương xót với chính mình và tha nhân. Từ ấy cuộc đời sẽ thay đổi bởi tâm không còn lo sợ nhiều nữa. Vị ấy không nhìn từ kinh nghiệm cá nhân của một con người có tên tuổi cụ thể, có tôn giáo riêng, có kiến thức riêng, có tâm tư riêng, có lo-gic riêng của ý nghĩ từ một cá nhân cụ thể. Người ấy nhìn về thân xác và tinh thần của chính mình từ một trạng thái thấy biết thuần túy không kiến thức như của trẻ thơ. Từ cái nhìn ấy nhận ra chính mình như một sinh vật tạm xuất hiện hết sức tinh vi và có thể suy nghĩ, phân tích được nhiều điều.
Nhận biết thật rõ về sự khổ đau, nguồn gốc của sự khổ đau và hạnh phúc của sinh vật nầy.
Chính khả năng suy nghĩ và phân tích của chính sinh vật nầy đã tạo ra một chuỗi ham muốn và sợ hải lo lắng rồi đau buồn cho chính nó. Nó nghĩ ra đủ cách để thỏa mãn cho chính các ý nghĩ. Chuỗi ý nghĩ và ham muốn nầy không làm sao dừng được. Giòng sông lớn hay biển cả có thể bị cạn nhưng chuỗi ý nghĩ và ham muốn của sinh vật người nầy không bao giờ cạn. Có thể nói là bầu trời rộng lớn bao nhiêu thì nó cũng nở ra như vậy không kém! Đây là điều kỳ lạ và hết sức lý thú khi từ trạng thái bát nhã nhìn về chính thân phận của mình. Nguồn gốc của ý nghĩ lại xuất phát từ kinh nghiệm sống nên nó nhuộm đen tất cả tâm hồn.
Nhưng tâm hồn có cái hay là nó có khả năng trong suốt trở lại khi sự bình tĩnh xuất hiện và các ý nghĩ dừng lại. Chính vì vậy, khi một người được một vị thầy hay một hoàn cảnh nào đó thức tỉnh lại thì người ấy từ điên đảo đau khổ trở về với giác tánh và giác ngộ giải thoát ngay (không phải nghĩa của giải thoát là bỏ nhà ra đi tới chỗ khác). Hãy dùng hình ảnh bé thơ mới sinh vài ba tháng để tập nhìn. Tập nhìn từ tình huống nầy.
Tôi nhớ sau khi có bao nhiêu hiện tượng lạ xuất hiện trong tâm hồn chung quanh tôi, đến khi tôi dạo chơi dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn bên phần đất Ấn độ, bỗng nhiên trong tâm tôi xuất hiện một trí tuệ rằng chính những suy nghĩ là nguòn gốc đưa tôi đến mọi suy tính và gây ra bao khổ đau mặc dù tôi làm ra nhiều tiền từ sự nghèo khó. Sau đó tôi sống trong trạng thái hỉ lạc trong suốt mười lăm ngày đêm. Từ đó tôi không còn tin vào ý nghĩ của mình nữa và mọi ý tưởng mà tôi thắc mắc xưa kia hoàn toàn bị sụp đổ. Những ý nghĩ viển vông không còn chỗ dựa để phát triển nữa. Vô lượng trí tuệ giải thóat tuôn trào.
Khi đã vào chỗ vô nhiễm của tâm để nhìn thì không còn tâm phân biệt để vui mừng hay sợ hãi, “sắc bất dị không, không bất dị sắc”.
Khi vào được chỗ vô nhiễm của tâm thì sẽ thấy rõ các tình trạng của tâm như vui buồn lo lắng giận hờn sung suớng cũng giống như mây trên trời. Cứ nhìn mây trên trời mà liên tưởng đến mọi tình trạng hỗn độn của tâm như sáng cười, chiều khóc, tối kêu la.
Khi ấy sẽ thấy chẳng có trí gì để đắc, chẵng có gì sinh dị trụ diệt. Nhưng có trí xuất hiện theo các điều kiện tạm thời để tạm dùng, có sinh dị trụ diệt của một vật thể hữu hình có điều kiện tạm thời như là kết quả của một môi trường có điều kiện cho nó tạm xuất hiện rồi tan biến đi. Không câu chấp vào trí tạm và vật thể hữu hình tạm thời nầy nên không nắm giữ, không cố nắm giữ nên không lo sợ, không lo sợ nên không đau khổ, không đau khổ thì tâm bình yên, tâm bình yên thì trạng thái hạnh phúc sâu sắc bền vững sẽ xuất hiện trong sự bình yên nầy.
Các Bồ Tát nhờ Phật chỉ bày mà dựa vào sự bình yên nầy nên thường thấy mọi việc chính xác như nó mà đại bi, đại dũng để dùng các phương tiện đại trí mà tác động giúp loài người tạm bình an trong tâm hồn để tiến tới khám phá sự hạnh phúc của tâm bình yên.
Các đời Chư Phật cũng dựa vào trạng thái vô nhiễm có sẵn nầy để nhìn chính linh thể vừa hữu hình vừa vô hình nơi chính các Ngài và chúng sanh mà trí giải thoát phát sinh và tâm vô nhiễm được mãi duy trì như các Ngài đang thường ngự trong cảnh giới niết bàn vậy.
Trạng thái vô nhiễm của tâm cũng giống như một thứ năng lực vô hình mạnh mẽ có thể sản sinh ra mọi tình huống khác của tâm mà ứng dụng trong cuộc sống để vừa vui vừa hạnh phúc và vượt qua các chướng ngại làm đau lòng con người. Nó có công năng quý giá đáng được con người chú ý tái khám phá lại sau sự khám phá của các Phật mà Phật Thích Ca là con người lịch sử để lại cho thế gian rõ ràng nhất và tương đối đầy đủ nhất so với các thánh nhân khác.
4/Thay lời kết luận
Con người đừng bỏ lỡ cơ hội làm người. Không phải cái quý nhất là phát sinh nhiều hiểu biết và nhiều thủ đoạn để có thật nhiều tiền, nhiều tình dục, nhiều tiếng tăm, nhiều chơi bời...
Hãy khám phá trạng thái vô nhiễm của tâm để tâm phát minh và phát triển những trí tuệ và tình cảm tích cực luôn luôn giúp con người có cuộc sống nâng cao về tâm hồn và biết đủ về vật chất. Trí tuệ của con người là cần được cổ vũ phát triển nhưng hãy từ cõi vô nhiễm của tâm mà ra.
Trụ trong trạng thái vô nhiễm, tâm thường phát sinh những trí tuệ tuyệt vời vừa sống vui, sống hạnh phúc lại vừa giải thoát lúc sống và bình yên ngay khi chết.
Hãy lên đường, hãy lên đường mà khám phá cõi vô nhiễm của tâm vì đây là hạnh phúc thật sự và tối thượng của con người.
California, ngày 26/7/2006
DT