Tập Phát Triển Tình Thương Để Thay Đổi Tâm Hồn
Hầu hết các đạo hữu có mặt tại đây hôm nay đã từng đọc qua nhiều sách, bởi vì hiện giờ kinh sách in ra tràn lan, quý vị cũng nhiều lần đi nghe các thầy thuyết giảng, cho nên hôm nay tôi chỉ xin góp phần chia sẻ với quý vị về việc ứng dụng giáo lý của Phật vào đời sống như một đạo hữu vừa đề nghị.
Một điều chúng ta phải nắm vững trước tiên khi học hỏi Phật Pháp, khi đọc kinh sách Phật giáo hoặc đi nghe thuyết giảng, mục đích duy nhất là nhằm để hiểu rõ chính mình để sống theo sự hiểu biết ấy chứ không phải để hiểu kinh, không phải để hiểu ông thầy, cũng không phải để hiểu Phật giáo hay để hiểu Đức Phật Thích Ca.
Nếu làm công việc giảng dạy hay làm một nhà nghiên cứu, một học giả thì ta mới phải tìm hiểu về Đức Phật, về kinh Phật, phải nghiên cứu những bài thuyết giảng của các Thầy để có kiến thức giảng dạy hay viết sách. Còn thông thường chúng ta đến với Phật Pháp là để hiểu mình, đọc kinh nhằm hiểu mình, lắng nghe thuyết giảng hầu hiểu rõ mình.
Khi đi nghe Giáo Pháp không phải cốt ý tới xem ông thầy biểu diễn tài hùng biện hay đánh giá ông ta giỏi tới cỡ nào! Không phải xem ông Thầy diễn kịch mà cố gắng dùng những lời giảng thuyết ấy để hiểu tâm mình.
Quý vị đi bất cứ chùa nào, gặp bất cứ thầy nào, đọc bất cứ kinh sách nào của Phật giáo cũng phải nhớ một điều quan trọng là việc làm này để giúp chúng ta hiểu chính chúng ta. Chỉ có một cách duy nhất là hiểu rõ chính mình thì chúng ta mới thực sự sống hạnh phúc. Chứ còn nếu quý vị hiểu kinh sách, hiểu ông thầy giỏi, hiểu ông Phật hay mà không hiểu chính mình thì quý vị vẫn sống trong đau khổ triền miên mà thôi.
Cho nên mỗi khi đọc kinh hay nghe thuyết giảng, quý vị đừng khen kinh hay, đừng khen thầy xuất sắc mà phải làm sao đạt đến chỗ thấy rằng bản thân mình có điều tốt. Có đọc kinh, có nghe thuyết giảng thì mới nhận ra được mình giỏi hay dở. Chúng tôi đề nghị từ đây về sau quý vị đừng khen thầy nào hùng biện và cũng đừng chê thầy nào tệ, đừng nói kinh sách nào hay và phê bình kinh sách nào tồi, mà chúng ta phải biết rõ chúng ta có gì hay hoặc dở, đó mới là điều quan trọng nhất.
Khi đi nghe kinh Phật đề cập đến từ bi, Đức Phật dạy rằng Đạo của Ngài chính là Đạo của tình thương, cô gái thích quá bèn về khoe với trong nhà :
-Mẹ ơi hôm nay con đi nghe thuyết giảng hay quá, con biết rằng Phật có tình thương lớn lao đối với chúng sanh, các vị Bồ tát cũng tràn đầy tình thương đối với thế gian.
Nghe con nói vậy bà mẹ có thể trả lời cho qua :
-Thế hả con, nếu biết hay vậy mẹ cũng đi nghe.
Nhưng nếu trong nhà có một người khác chịu khó suy nghĩ bèn trả lời rằng :
-Tưởng gì chứ tình thương thì trong nhà mình cũng có sẵn rồi. Cha mẹ có tình thương đối với các con còn con cái cũng có tình thương đối với cha mẹ. Chuyện đó có gì lạ đâu mà phải đi học mới biết, phải ngồi thiền mới hiểu?
Rõ ràng không phải chỉ khi tụng kinh gõ mõ mới nảy ra tình thương, phải ăn chay niệm Phật mới có tình thương, phải tìm gốc cây bồ đề ngồi xuống nhắm mắt lại thì tình thương mới nảy sinh! Tình thương có sẵn rồi, ai cũng có tình thương hết. Mặt khác mình chỉ mới nghe nói người này người kia có tình thương, trong khi chính mình chứa đựng đầy tình thương mà không chịu chú ý, lại thích đi nghe chuyện người khác có tình thương! Trường hợp đó Phật bảo rằng người ấy sống trong điên đảo, trong vô minh.
Quý vị có công nhận mình có sẵn tình thương hay không? Trong chúng ta chẳng ai là không có tình thương cả.
Người mẹ nào cũng thương con. Trước khi sinh con ta chưa biết cái tình gọi là tình thương con ấy. Nhưng hễ có con rồi tự dưng không biết ở đâu cái tình thương con bỗng xuất hiện. Như vậy có nghĩa tạo hoá ban cho đứa con là giúp cho ta cơ hội để hiểu rằng ta có sẵn tình thương con, nhưng khi thằng bé hay con bé chưa xuất hiện ta chưa ý thức được, đến khi nó hiện hữu mình mới thấy cái tình ấy xuất hiện. Ta thấy rằng không phải chính thằng bé hay con bé ấy mang lại tình thương con cho ta mà ta đã có sẵn rồi.
Làm con thì có tình thương đối với cha mẹ. Trường hợp một đứa bé mồ côi ngay từ khi mới sinh quả là bất hạnh vì nó sẽ không biết đến cái tình thiêng liêng nhất trên đời là tình thương cha mẹ. Còn những đứa trẻ bình thường, từ khi bắt đầu nhận biết nó đã có tình thương với cha với mẹ và đến sáu bảy tuổi tình thương phát triển hoàn chỉnh.
Vậy tình thương cha mẹ vốn đã có sẵn rồi.
Khi chưa có bạn chúng ta chưa cảm nhận được tình bạn, nhưng khi bắt đầu có một người bạn thân, hễ xa người đó tự nhiên ta cảm thấy mình nhớ và từ đó mới cảm nhận mình có tình bạn.
Sống ở quê cha đất tổ suốt bao nhiêu năm chúng ta không hề quan tâm đến tình cảm đối với quê hương, nhưng đến khi do hoàn cảnh phải tha phương cầu thực thì cảm thấy buồn nhớ quê hương da diết, lúc đó mới biết đến tình yêu với nơi mình sinh ra và lớn lên.
Quý vị thấy đó, chúng ta có đầy đủ tất cả các thứ tình. Trong những dịp gặp gỡ, năm sáu người bạn họp mặt nhau uống trà trò chuyện, ít khi nào mọi người đề cập đến chuyện này. Nếu những người ấy đem chuyện tình thương ra bàn với nhau, kể về tình thương bao la, tình thương rộng lớn, tình thương nhỏ bé, tình thương giới hạn, hay khoe với nhau ông thương ai, bà thương ai, chú thương ai … thì chắc chắn không xảy ra chuyện gì mất lòng nhau.
Nhưng nếu không nói chuyện về tình thương mà hỏi rằng ông học cái gì, bà hiểu biết điều chi thì tự nhiên sẽ dẫn đến người này chê bai người kia, phê phán người nọ, rồi đỏ mặt tía tai, rồi đùng đùng nổi giận, rồi bắt đầu coi thường và đố kỵ nhau ngay.
Ông này tự thấy mình giỏi nên cho rằng mình uyên bác hơn, đưa ra nhận xét người nọ hời hợt, kém cỏi. Bà này tự hào mình là người suy nghĩ sâu sắc, còn cái bà nọ đầu óc rỗng không nên không bằng mình. Thế là bắt đầu có giận hờn, có cãi cọ liền. Quý vị thấy điều tôi nói có chính xác hay không?
Rõ ràng những suy nghĩ và ý tưởng của chúng ta thường mang lại sự chia rẽ và rắc rối, đem lại bực bội, khổ đau và lo sợ. Một người đang lo âu, nếu cho họ uống thuốc an thần để ngủ yên thì họ không còn thấy sợ nữa, chỉ khi đầu óc làm việc thì họ mới cảm thấy lo sợ. Một người trải lòng ra mà sống và chỉ biết yêu thương thôi thì tôi tin chắc rằng người đó ít có điều gì phải lo sợ hoặc có thể không lo sợ.
Qua phim ảnh chúng ta có thể nhận rõ điều này, bởi vì phim ảnh thể hiện lại đời sống. Chẳng hạn vừa rồi trên truyền hình có chiếu các phim như Tình sử Đại Đường, phim Cây ngô đồng, hoặc phim về tình yêu của Hàn Quốc.
Chúng ta thấy rằng trong các phim đó hễ người nào yêu chân thật thì sẵn sàng hy sinh tiền bạc, danh dự và cả tính mạng để bảo vệ cho mối tình và người yêu của mình. Họ không sợ gì hết, không bao giờ e dè điều gì. Còn ngược lạinhân vật nào luôn tính toán, âm mưu sắp đặt một việc gì thì tình yêu của họ cũng dối trá và bản thân họ luôn luôn sống trong sự lo sợ, bất an.
Trong phim đã thế mà ngoài đời cũng vậy. Những người trẻ khi thương nhau dù cha mẹ cấm đoán cũng không nghe, có doạ cạo đầu cũng không sợ, chỉ nghe theo tiếng nói của con tim thôi. Những người có tình yêu thực sự, sống với tình thương thực sự thường không sợ gì cả. Giống như một bà mẹ thương con, ai đụng tới con mình là không được. Kẻ nào giương súng định bắn đứa con bà sẵn sàng nhảy ra hứng lấy viên đạn cho con mà không chút sợ sệt.
Không có tình thương thì chỉ có sự lo sợ, sự tính toán.
Do đó Đức Phật luôn cổ vũ sao cho tình thương yêu trong sáng được phát triển trong mỗi người chúng ta. Khi quý vị thương ai một cách chân thành, quên mình, thì tự nhiên sẽ có trí tuệ đặc biệt để bảo vệ tình yêu đó.
Một người yêu Tổ quốc của họ, khi giặc đến xâm chiếm quê hương thì họ sẽ có đủ trí tuệ để chống giặc mà bảo vệ đất nước. Cho nên đừng nói rằng tình yêu là không có trí tuệ. Nói như thế là chúng ta chưa hiểu.
Có hai loại trí tuệ:
Trí tuệ xuất phát từ tình yêu thương
Trí tuệ xuất phát từ sự suy nghĩ, từ việc học hành.
Mà trí tuệ xuất phát từ tình thương là trí tuệ cao thượng nhất và đáng quý nhất.
Một người chiến đấu vì tình yêu đối với Tổ quốc không ngần ngại hy sinh tính mạng của mình, nhưng một người chiến đấu vì một mưu cầu riêng tư nào đó thì chắc chắn chẳng bao giờ sẵn sàng hy sinh, khi lâm trận họ sẽ đùn đẩy cho người khác hy sinh thay họ.
Cho nên khi học Phật đừng có chờ đợi hiểu điều gì xa xôi bên ngoài, mà học Phật là để hiểu ngay chính mình mà trước nhất hiểu rằng mình có tình thương yêu nồng thắm sẵn trong trái tim. Kế đến ta cố gắng tập sống bằng tình thương yêu đó, tập mãi rồi tình thương sẽ xuất hiện.
Sữa không phải là ya-ua, nhưng nếu chúng ta biết cách làm thì sữa sẽ biến thành ya-ua. Ya-ua cũng là sữa nhưng tính chất có hơi khác hơn sữa một chút. Cũng vậy, tình yêu thương có sẵn trong tâm chúng ta rồi. Qua một số động tác thực tập, tập thương con, tập thương chồng một cách chân tình, tập thương vợ, thương yêu Tổ quốc, thương yêu bạn bè, cứ tập riết thì tự nhiên tình thương rộng lớn thiêng liêng sẽ xuất hiện.
Trong đạo Phật, người có tình thương yêu lớn nhất hẳn nhiên là Đức Thích Ca, nhưng ngay cả Đức Thích Ca muốn có tình thương yêu thì cũng phải tập. Ngài tập thương hết chúng sanh, ai chửi rủa Ngài, ai làm điều gì xúc phạm đến Ngài thì Ngài cũng vẫn thương.
Vũ khí duy nhất mà Đức Thích Ca đưa ra sử dụng với chúng sanh là tình thương.
Còn chúng ta, đáng buồn thay hiện nay ít ai sử dụng tình thương để cư xử với nhau mà chỉ sử dụng thủ đoạn, sử dụng súng, sử dụng băng xã hội đen, sử dụng vũ lực để đối phó. Và chính vì không sử dụng tình thương để sống với nhau cho nên cuộc sống chúng ta trở nên quá nghèo nàn, quá đau khổ, chúng ta trở thành những con người hết sức nhỏ nhen.
Chúng ta phải nhớ nằm lòng một điều, người vĩ đại nhất trên thế gian này không phải là người kiến thức nhiều nhất. Người vĩ đại nhất trên thế gian này không phải là người học cao hiểu rộng, mà người vĩ đại nhất trên thế gian này là người có tình thương lớn lao nhất. Số người ấy chỉ đếm trên đầu ngón tay:
Phật giáo có Đức Thích Ca
Thiên Chúa có Ngài Giêsu
Đức Phật Thích Ca là bậc đại giác thương yêu tất cả chúng sanh, từ con người cho đến muông thú và cây cỏ, mọi cái hiện hữu trong cuộc sống Đức Thích Ca đều thương yêu hết.
Cho nên người vĩ đại nhất chính là người có tình thương lớn nhất. Vì vậy từ đây về sau chúng ta đừng nên khen những người học cao kiến thức rộng, ta quý trọng là đủ rồi. Bởi vì đều trớ trêu là người đủ khả năng làm cho người khác đau khổ chính là người học cao hiểu rộng.
Quý vị có đồng ý với tôi về điều này không?
Nếu không học cao hiểu rộng thì không đủ khả năng gây tai hoạ cho người khác, không thể chế ra bom nguyên tử, không chế ra những vũ khí huỷ diệt hàng loạt, không thể có những thủ đoạn giết người một cách tinh vi được.
Do đó đối với những kẻ học cao hiểu rộng chúng ta phải dè dặt chứ đừng nhắm mắt mà ca ngợi. Ta nên đề cao những người nào có tấm lòng rộng mở, có tình thương bao la đối với nhân loại.
Một người được gọi là Thánh nhân không phải vì người đó học cao hay kiến thức rộng mà vì người đó có một tình thương yêu lớn lao đối với nhân loại, đối với đồng bào, đối với những người chung quanh, đối với cảnh vật hay đối với đất nước quê hương.
Tuy nhiên, nếu không học cao hiểu rộng thì người có tình yêu lớn cũng khó đem tình thương của mình chia sẻ cho người khác. Ta có thể dùng hình tượng cái kho chứa bột mì để so sánh với tình thương. Muốn đem chia sẻ bột mì cho người khác một cách tốt nhất thì phải làm ra thành bún, thành bánh mì, bánh đậu xanh… mà muốn chế biến ra đủ thứ thì phải có những kiến thức cần thiết.
Cho nên việc học cao hiểu rộng là tốt nhưng đó không nhất thiết là con đường đưa đến chỗ thành Thánh nhân. Vì vậy nếu quý vị theo học Phật Pháp, muốn sống theo lời dạy của Đức Phật thì không cần phải ngồi thiền, không cần phải tụng kinh gõ mõ, không cần làm ra vẻ quan trọng. Tụng kinh gõ mõ là rất tốt, ngồi thiền cũng tốt, nhưng đừng đem chuyện tụng kinh gõ mõ và ngồi thiền để mà phô trương. Tụng kinh gõ mõ chỉ cốt làm cho lòng mình bình an trong những lúc tâm xao động.
Điều quan trọng nhất là cư xử với tất cả mọi người bằng tình thương, mà tình thương do tự trong lòng mình mà ra. Không nên chú trọng đến hình thức để làm oai với thiên hạ mà phải thật sự thương yêu giúp đỡ mọi người mới là thực tế.
Tóm lại, nội dung kinh Phật hay là lời thuyết giảng của các vị sư cũng nhằm để cho quý vị ý thức được mình đang có sẵn cái gì và cách thức đem những cái có sẵn đó ra sử dụng thế nào? Chứ tu tập không phải cốt để thành Phật.
Phật là gì?
Phật là cái tâm sáng suốt, là một sự nhận biết rõ ràng. Đói thì biết mình đói, đau lưng thì biết đau lưng, nhức đầu biết nhức đầu, đau mắt biết đâu mắt, đau cột sống biết đau cột sống, tức là một sự nhận biết rõ ràng. Trạng thái nhận biết rõ ràng đó gọi là Phật.
Vậy thì ai cũng là Phật, kể cả những người hành khất. Người ăn xin cũng biết phân biệt rõ ràng mọi thứ, biết cái gì ngon cái gì dở, cái gì xấu cái gì tốt, đó chính là sự sáng suốt, là sự nhận biết tinh tường nên họ cũng là Phật. Dĩ nhiên không phải Đức Phật Thích Ca, Phật Di Đà hay Phật Di Lặc.
Điều gì bắt buộc chúng ta phải tu thành Phật?
Vấn đề quan trọng là chúng ta phải biết Phật có những gì? Phật có một trái tim lớn. Chúng ta cũng có trái tim lớn. Phật có sự nhận biết tinh tường. Chúng ta cũng có sự nhận biết tinh tường. Vậy thì hai vấn đề cơ bản mà Đức Thích Ca có là sự nhận biết tinh tường và tình thương yêu nồng nàn, cả hai đặc tính đó quý vị đều có sẵn y như Đức Phật Thích Ca. Điều còn lại là chúng ta học cách triển khai cái kho tàng ấy mà thôi.
Chúng ta thử quan sát hai người phụ nữ hàng xóm, hai người này đi hai chùa khác nhau, theo học hai ông thầy khác nhau, cùng siêng năng tụng kinh liên miên và ngồi thiền bất tận. Vậy mà khi về nhà cứ trông thấy mặt nhau là lườm nguýt chửi lộn. Thế thì việc ngồi thiền đâu có ra tình thương, chuyện tụng kinh đâu làm nảy sinh tình thương?
Tình thương chúng ta có sẵn rồi, muốn thương nhau hay không thương đó là tuỳ quý vị. Không phải bây giờ vì chưa thương bà hàng xóm được nên mình phải đi ngồi thiền, còn người kia cũng nói :
“Tôi thương bà hàng xóm chưa được nên phải đi tụng kinh Pháp Hoa”
Nhưng kết quả cuối cùng là hai bà vẫn cứ tiếp tục chửi nhau cả đời.
Rõ ràng việc ngồi thiền với tụng kinh Pháp Hoa không hề tạo ra tình thương. Tình thương có sẵn trong tâm rồi, vấn đề là mình có chịu lấy ra xài hay không mà thôi.
Hai bà hàng xóm ấy có hai đứa con là bạn thân với nhau. Một đứa con bèn khuyên mẹ :
“Mẹ ơi thôi đừng có chấp, mẹ qua nhà bác Hai chơi đi”.
Đứa kia cũng năn nỉ mẹ :
“Mẹ ơi bỏ qua hết đi. Mẹ qua nhà bác Ba chơi để giữ hoà khí”.
Nhưng bà mẹ thứ nhất gạt đi :
“Con biết gì mà nói, người ta khinh mình con không thấy sao”.
Bà mẹ thứ hai lại rầy :
“Không bao giờ có chuyện qua lại thăm viếng hết. Con ngu lắm, người ta coi thường mình mà không biết. Thôi để mẹ đi ngồi thiền cái đã”.
Bà có ngồi thiền suốt đời cũng chẳng giải quyết được gì! Đáng lẽ nghe con nói thế bà phải nghĩ lại :
“Ờ thôi để mẹ mở lòng qua chơi với họ”.
Bà bèn đem trầu cau trà bánh qua mời hàng xóm, cùng vui vẻ xí xoá, bỏ qua hết mọi chuyện giận hờn. Như thế đơn giản hơn nhiều.
Đó là chuyện hàng xóm, còn trong gia đình đôi khi còn nặng nề hơn. Nhiều cặp vợ chồng ba bốn mặt con rồi mà có khi chồng mang tâm sự buồn rầu, vợ cũng có nỗi niềm riêng mà không ai thổ lộ với ai. Ông chồng giận vợ không chăm sóc mình còn bà vợ phiền chồng không nhường nhịn mình. Rồi cứ hậm hực với nhau, lườm nguýt nhau, ôm mối hận lòng mà không ai nói với ai và cũng không sao thông cảm được với nhau.
Thế là ông chồng lo đi ngồi thiền, bà vợ tụng kinh Pháp Hoa, hy vọng có ngày sẽ hoà giải với nhau. Bởi vì trong kinh nói rằng hễ đang tức giận mà tụng một hồi kinh Pháp Hoa sẽ tan hết bực bội. Đúng thế, lúc đang tụng cũng cảm thấy nguôi ngoai nhưng vừa tụng xong là giận lại liền, y hệt như cũ không khác chi hết, thậm chí cường độ giận càng cao hơn. Giải quyết cách đó thì suốt đời cũng chẳng thể thuận thảo được, có tụng một tỉ lần kinh Pháp Hoa cũng không có hiệu quả gì hết. Sau đó đường ai nấy đi rồi nói với người quen rằng :
“Lúc này tu rồi nên phần ai nấy đi”.
Chúng ta biết rằng mình có sẵn tình thương rồi, tại sao không chịu ứng dụng mà cứ đem suy nghĩ ra để đối phó với nhau? Hai con tim cùng một nhịpđập nên dễ dàng hoà làm một, còn hai cái đầu có hai cái kiểu suy nghĩ khác nhau cho nên khó thể hoà vào nhau. Hai đầu óc có hai suy nghĩ khác nhau, buổi sáng chồng nghĩ khác vợ nghĩ khác, hai suy nghĩ không giống nhau, rồi đến tối cũng vậy, chồng vẫn nghĩ khác vợ, không có cách chi mà giống nhau được.
Nhưng nếu đem tình thương đối đãi với nhau thì từ sáng sớm cho đến nửa đêm tình thương của ông chồng cũng giống y hệt với bà vợ, hoàn toàn không có gì khác nhau cả.
Cho nên nếu chúng ta không thống nhất được với nhau bằng tình thương mà cứ sống với nhau bằng suy nghĩ trong đầu, cứ căng thẳng với nhau thì sẽ không bao giờ tìm được tiếng nói chung.
Hai người vốn thân thiết từ lúc còn ở dưới quê, khi cùng lên thành phố học mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nên suy nghĩ cũng dần dần có khoảng cách. Con tim tuy vẫn như cũ nhưng cái đầu đã đổi khác nên không còn thân thiết như ngày nào. Thế là tình cảm bắt đầu phai lạt, hai bên trở nên khó chấp nhận được nhau. Tất cả những cái đó đều xuất phát cái đầu hết, đều do suy nghĩ mà ra hết.
Do đó mà Đức Phật luôn khuyến khích chúng sanh phải sống bằng tình thương yêu chân thành, bằng tình thương của vô ngã. Tình thương vô ngã chính là mình vì người chứ không phải vì mình, mà vô ngã đi liền với vị tha, tức là mình sống vì người khác. Do tình thương yêu mà mình sống vì người khác, Đức Phật chỉ dạy con người mỗi chuyện đó mà thôi, không có gì hơn.
Cho nên khi học kinh hay đi nghe thuyết giảng quý vị phải nắm rõ chứ đừng để bị lầm lẫn, trong tất cả các kinh, dù là kinh nào thì cuối cùng Đức Phật cũng đi đến kết luận tình thương yêu là yếu tố quyết định. Như thế việc học Phật không có gì khó cả. Khi quý vị đã hiểu mình có sẵn tình thương rồi, vấn đề còn lại là quý vị tìm cách áp dụng nó trong cuộc sống.
Mỗi người trong chúng ta đều có sự nhận biết giống nhau, nhưng khi áp dụng lại hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn như bây giờ ta đi mua chiếc vòng cẩm thạch đeo tay. Quý vị phải sử dụng sự nhận biết của mình đánh giá chiếc vòng ra sao rồi mới tính tới giá cả. Nhưng nếu đi mua hàng trong tình trạng lòng buồn bực, đang nhớ thương ai đó, đang bứt rứt khó chịu thì chắc chắn quý vị không thể sử dụng cái nhận biết tinh tường của mình được. Mua một món hàng mà tâm trí bị rối rắm đương nhiên phải bị lầm.
Cái sự nhận biết quý vị đã có sẵn rồi. Ví dụ chúng ta lái xe đi làm hàng ngày, ta dùng sự nhận biết để điều khiển xe, để chạy đúng theo chiều qui định, tuân theo đúng luật giao thông … Còn nếu đang lái xe mà mình hào hứng phấn khởi quá vì hôm qua vừa trúng số mấy tỉ đồng, hoặc lòng đang rầu rĩ vì đêm qua trộm cạy cửa vào nhà lấy sạch hết của cải, thế thì người đó cũng giống như ma ngồi trên xe thôi, sự nhận biết bị che mờ hết rồi. Phấn khởi quá hay đau buồn quá thì sự nhận biết cũng không còn bình thường nữa, kết quả là dễ gây ra tai nạn.
Học Phật cũng giống y như thế, ta phải tỉnh táo nhận biết, sử dụng sự nhận biết của mình và đem trái tim ra mà sống ở đời. Tôi xin nhắc lại điều duynhất khi học Phật, khi nghe thuyết giảng hay đọc kinh sách là để nhận biết rằng chúng ta có sẵn một tình thương tiềm ẩn bên trong. Điều quan trọng hơn là khi đã nhận thấy nó thì chúng ta cố gắng áp dụng vào đời sống hàng ngày để được hạnh phúc hơn.
Nếu làm vợ mà sử dụng sự nhận biết và tình thương trọn vẹn thì sẽ trở thành một người vợ đảm đang.
Nếu làm chồng mà sử dụng sự nhận biết và tình thương trọn vẹn sẽ là người chồng gương mẫu.
Nếu làm con mà sử dụng sự nhận biết và tình thương trọn vẹn sẽ là người con hiếu để.
Nếu đi buôn mà sử dụng sự nhận biết và tình thương trọn vẹn thì trở thành một thương gia tài ba.
Nếu chạy xe ôm mà sử dụng sự nhận biết và tình thương trọn vẹn thì là người đáng tin cậy nhất so với các đồng nghiệp.
Không phải thành Phật là không chạy xe ôm nữa, không phải thành Phật là bỏ nghề lái xe cũng như không phải thành Phật là dẹp chuyện buôn bán đâu. Thành Phật chính là sử dụng sự nhận biết và tình thương sáng suốt nhất vào công việc của mình.
Lúc ở ngoài đời phải làm trọn vẹn bổn phận ngoài đời, không đủ nhân duyên với đời mà có nhân duyên với chùa thì làm một tỳ kheo, một người xuất gia. Dù mình là ai thì cũng đều sống trong sự nhận biết và tình thương trọn vẹn nhất. Khi đã chán ngán cảnh chùa bèn ra ngoài đời trở lại, muốn lấy chồng cưới vợ, muốn làm ăn buôn bán mình vẫn phải sử dụng sự nhận biết và tình thương trọn vẹn để làm vợ làm chồng hay là làm ăn buôn bán một cách sáng suốt nhất.
Cho nên trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn có đề cập đến việc con người lúc đóng vai này lúc đóng vai khác, vai nào cũng phải sáng suốt, có tình thương yêu sâu sắc nhất để giúp đỡ người khác. Lúc đóng vai vua, lúc đóng vai Phật, lúc đóng vai tỳ kheo, lúc đóng vai hoàng hậu, bất kỳ vai trò nào mình cũng sử dụng sự nhận biết và tình thương tràn đầy để giúp đỡ người khác, để sống vui với người khác. Đó chính là sống Phật.
Quý vị hoàn toàn đủ khả năng để sống như thế vì quý vị vốn đã là Phật rồi, là đã sống trong ngộ rồi. Nói như vậy không có gì là ghê gớm cả, quý vị đừng e sợ. Phật là sự sáng suốt, nếu quý vị đói mà biết ăn cơm, buồn ngủ biết đi ngủ, bệnh hoạn biết chữa bệnh, bình thường biết tập thể dục để tăng cường sức khoẻ thì quý vị đã là Phật rồi.
Vấn đề bây giờ là làm sao phát huy bản tánh Phật đó ngày càng cao hơn, rộng hơn và lan toả ra chung quanh nhiều hơn để giúp cho nhiều người được hưởng phước hơn. Giống như Đức Phật đã viên tịch cách đây 2456 năm nhưng phước đức của Ngài vẫn còn mãi cho đến ngày hôm nay mà vô lượng chúng sanh nếu tưởng nhớ đến đều hưởng được.
Trong gia đình mà quý vị tập sống với bản tánh Phật chắc chắn sẽ được phước đức, con cháu của quý vị sẽ hưởng phước đức từ quý vị, bà con dòng họ cũng sẽ được hưởng phước đức của quý vị, Cửu Huyền Thất Tổ mặc dù đã khuất bóng nhưng vong linh các cụ cũng sẽ được hưởng phước đức của quý vị. Chỉ cần biết khai thác và sử dụng sự nhận biết và tình yêu thương có sẵn trong tâm để cư xử với mọi người chung quanh, để áp dụng trong nghề nghiệp của mình, để sống với gia đình, để làm một công dân của đất nước thì quý vị sẽ trở thành một vị Phật trọn vẹn.
Chúng ta sống một cuộc đời bình thường nhưng với sự sáng suốt trong tâm, sống bằng tình thương yêu nồng nàn đối với tất cả mọi người, không hẹp hòi cố chấp thì đã là sống theo Phật.
Đó là lý do Phật nói rằng sẽ có vô lượng chúng sanh thành vô lượng chư Phật. Tại sao Phật lại quả quyết sẽ có vô lượng chư Phật trong quá khứ, vô lượng chư Phật trong hiện tại và có vô lượng chư Phật trong vị lai? Căn cứ vào đâu mà Đức Thích Ca nói câu đó? Bởi vì tất cả quý vị có mặt tại đây, từ lúc tôi nói chuyện đến giờ nếu quý vị sống được như vậy thì quý vị đều là Phật hết rồi. Đâu phải hễ thành Phật thì không được xuống ruộng nữa? Phật cũng phải vô nhà máy, phải đi sản xuất, phải làm công nhân, phải làm nhà buôn để sống và phục vụ cộng đồng. Phật cũng phải làm nông dân, phải chân lấm tay bùn, làm ruộng làm rẫy và cũng phải dính bùn. Không thể nào khác được! Vậy thì chúng ta cứ yên tâm mà tu, đừng sợ rằng mình tu không đến nơi đến chốn.
Liệu những điều chúng tôi vừa trình bày có làm cho quý vị tin tưởng được không? Nếu tin được thì đừng cần đi tìm nơi đâu xa xôi nữa hết. Mình khai thác được bản tâm thì sẽ trở thành Phật. Mình sẽ là Quán Âm, là A Di Đà, là Văn Thù Sư Lợi, là Bồ Tát Di Lặc, trong ta có tất cả chứ không thiếu gì đâu. Đồng thời nếu muốn làm quỷ sứ thì mình cũng trở thành quỷ sứ. Có gì khó đâu, tối ngày chỉ cần đứng trước cửa nhà chửi đổng, đụng cái gì cũng chụp giựt, trì kéo, quơ lấy hết về mình thì thành quỷ sứ ngay. Quỷ sứ là gì? Là lòng tham lam, là lòng đói khát. Cho dù đã có chiếc xe Dream cáu cạnh rồi mình vẫn ham có thêm chiếc nữa. Thêm chiếc nữa rồi thấy vẫn chưa đủ bèn kiếm thêm, rồi bon chen giành giựt đem của cải về chất đầy nhà, đó chính là quỷ sứ.
Vì vậy muốn sống ra sao hoàn toàn tuỳ mình, muốn sống Phật hay sống quỷ sứ là do mình. Chúng ta từng thấy trong sản phẩm văn hoá Phật có bức tranh có hình vòng tròn ngay chính giữa để chữ tâm rồi chung quanh vẽ mười cảnh giới từ ngạ quỷ, súc sinh cho đến Phật. Bức ảnh ấy ngụ ý trong tâm chúng ta có đủ hết từ quỷ sứ cho đến Phật không thiếu gì cả, chúng ta muốn sống với tâm gì cứ tuỳ ý mà chọn lựa.
Như vậy quý vị có sẵn kho báu rồi, việc đến nghe các thầy thuyết giảng hay tìm đọc kinh sách là cốt làm sao để hiểu mình thấy mình có kho báu gì và để biết cách đem kho báu mình có sẵn ra sử dụng mà thôi. Cho nên việc đến chùa cũng cần thiết, đọc kinh sách cũng cần thiết, nghe các sư thuyết giảng cũng cần thiết chứ chẳng phải không, như ông bà ta đã có câu :
“Không thầy đố mày làm nên”.
Nhưng điều quan trọng là phải biết hỏi thầy :
“Thầy ơi, xin thầy chỉ giúp cho tôi hiểu được tôi, thấy kho báu của tôi chứ Thầy đừng chỉ đâu xa. Nhờ thầy hướng dẫn cách thức để tôi sống được với Phật của tôi, biết cách triển khai kho báu của tôi”.
Người nào đi chùa mà biết đặt ra yêu cầu trên thì mới đúng nghĩa là đi chùa. Còn đi chùa chỉ để đốt vài cây nhang rồi van vái cầu xin điều này điều nọ, dứt khoát là không hay rồi.
Nếu quý vị đi chùa theo cách chúng tôi vừa trình bày thì chùa sẽ trở thành quý báu cho tất cả những người có lòng hướng về cuộc sống thánh thiện. Tôi hy vọng những nội dung trên đây không có gì quá khó hiểu đối với tất cả quí vị. Ngoài ra trong những buổi nói chuyện về Phật Pháp, chúng tôi rất mong được các Phật tử đặt nhiều câu hỏi, đưa ra những thắc mắc để chúng tôi có thể giải đáp.
Một đạo hữu hỏi :
"Bạch Thầy chỉ dạy cách phát triển tình thương".
Đây là một câu hỏi lý thú. Nói thế chứ tình thương một khi đem ứng dụng cũng không phải đơn giản. Trước đây tôi cũng giống như đạohữu này, cảm thấy rất khó có thể thương ai. Mà khi thương rồi cũng vẫn hoang mang không hiểu liệu mình thương thật sự hay không? Thật tình là không biết rõ. Cái khó nghĩ trước tiên là làm sao nhận ra mình thương người ta thật hay không. Quả là khó lắm.
Tôi xin đơn cử một ví dụ. Hai người nam nữ mới quen biết, sáng sáng chở nhau đi ăn phở, buổi chiều cùng đi Công viên nước vui chơi rồi khi ra về ghé vô hàng quán ăn tối. Chàng trai lịch sự kéo ghế cho bạn gái, lấy khăn cho cô lau tay, gắp thức ăn mời cô. Cô gái dịu dàng cám ơn, ánh mắt nhìn chàng thân thiện, miệng mỉm cười tươi tắn. Cả hai người đều rán sức làm đẹp lòng nhau và thế là cả hai người yên trí rằng họ yêu nhau tha thiết.
Nhưng bất thình lình cha cô gái xuất hiện đùng đùng nổi giận chửi rủa ầm ĩ. Gặp hoàn cảnh đó người nào thương thật là đứng chịu trận nghe chửi, chờ ông bớt giận mới từ tốn thưa chuyện. Lỡ ông già tức giận đánh con gái là nhảy vô bênh liền, sẵn sàng chịu đòn thay cho người yêu, đó có thể là tín hiệu của tình yêu thật sự.
Còn nếu vừa thấy ông già làm dữ mà lật đật bỏ chạy rồi sau đó điện thoại phân trần :
“Anh yêu em lắm nhưng hồi nãy ông cụ làm ồn ào kẹt quá phải bỏ đi!” Gặp trường hợp đó là phải coi lại rồi!
Muốn biết yêu thật hay không phải có đủ cơ sở để chứng minh. Chúng ta xem qua những tình sử lớn như trong phim Titanic hoặc Tình sử Đại Đường. Trong phim Titanic, khi chiếc tàu sắp chìm thì chàng trai sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu người yêu. Chưa biết liệu cô gái có cơ may sống sót hay không nhưng chàng trai thì chắc chắn phải chết và vui lòng chấp nhận để nhường cho người yêu cơ hội được sống. Hay trong Tình sử Đại Đường, cô công chúa đem lòng thương chàng Biện Cơ, một nhà sư trẻ, và không hề giấu diếm. Cô tuyên bố công khai trong gia đình ông Thừa tướng mà cô đang làm dâu là cô sắp có con với Biện Cơ và sẽ đẻ tại ngôi nhà ấy chứ không đi đâu hết, sau đó cô sẽ báo lại với nhà vua. Quả thật là một cô gái liều lĩnh không biết sợ gì cả. Tại sao? Tại vì cô ta yêu thật, hễ yêu thật là không sợ.
Hễ người nào yêu giả là đóng kịch ghê lắm, nếu không thương thật, nếu chỉ thương sơ sơ thôi, gặp hoàn cảnh nguy cấp tức thì đầu óc họ suy tính liền: “Thôi thì không có cô này ta kiếm cô khác. Ta phải lo cho thân ta trước đã”. Vậy là họ tìm cách thoát thân một mình, bởi vì không có cô này thì họ sẽ kiếm cô khác thay thế.
Khi yêu thật người ta quên mình. Người nào yêu mà còn cân nhắc tính toán, còn biết là mình yêu thì phải coi chừng. Thông thường hễ yêu thật thì không còn biết mình yêu nữa, bởi vì tình yêu chân chính đồng nghĩa với vô ngã, tức là sự yêu không còn là đối tượng nhận biết của tâm trí nữa.
Một ông chồng nói rằng: “Bà biết rõ tôi thương bà đến mức nào mà”, hay một bà vợ nói: “Tôi thương ông ra sao ông đã biết rồi. Rõ ràng vì thương ông nên tôi mới đánh ghen, nếu không hà cớ gì tôi đánh ghen làm chi. Ông có thấy tôi thương ông đến thế nào không?”.
Người nào nghĩ rằng mình thương và đưa ra mọi lý lẽ để chứng minh thì phải xem lại tình thương ấy. Tình thương đi liền với vô ngã cho nên tình thương là sự chịu đựng, sự câm nín, là sự hy sinh chứ không có phô trương, không có lýsự và không có giành giựt. Hễ thương thật thì ai nói ra nói vào cũng không nghe, cứ lầm lầm lì lì làm tới vậy thôi chứ không nghe ai hết. Ông bà xưa thường hay nói rằng: “Cái con đó nó “lậm” rồi”. “Lậm” tức là nó lầm lầm lì lì cứ thế mà làm theo lệnh của con tim.
Ví dụ một người nghiện xì ke, sau thời gian cai nghiện anh ta đứng lên hạ quyết tâm thề rằng không bao giờ để tái nghiện. Nghe anh ta hô khẩu hiệu rùm beng mọi người cứ tưởng thật, nhưng thực ra chuyện ồn ào là xuất phát từ cái đầu óc của anh ta chứ không phải từ con tim.
Còn người nào mà con tim đã được biến đổi, tình thương cha mẹ, anh em phát triển mạnh, nhận ra rằng việc này tổn thương đến gia đình, đến cha mẹ thì anh ta chỉ có khóc và lẳng lặng hành động, không gióng trống khua chuông, không thề thốt cửa miệng, anh ta chỉ khóc và âm thầm hành động kiên quyết chống tái nghiện.
Bởi vì cái gì thật thì không nói được, Đạo là thật cho nên Lão Tử mới nói rằng :
“Đạo không thể nói được”.
Cái gì thật là không nói được, cái gì nói được là không thật.
Cho nên quý vị nam nữ hễ thấy người kia thề thốt bán sống bán chết là phải dè chừng. Muốn biết thật hay không thì phải đặt người đó trước tình huống phải hy sinh, hoặc là danh dự, hoặc là tài sản, hoặc là tánh mạng. Nếu chấp nhận hy sinh có nghĩa là người đó yêu thật. Người chiến sĩ sẵn sàng hy sinh tánh mạng mình để bảo vệ Tổ quốc, đó là tình yêu thật.
Tóm lại nếu nói thương thì trước nhất phải khẳng định chúng ta có thương thật sự hay không và thương bằng trái tim hay thương bằng lý trí. Lý trí thương thì luôn đòi hỏi phải đáp trả lại: “Cô phải dành thì giờ cho tôi, nụ cười cho riêng tôi, nói năng ngọt ngào dịu dàng với tôi, điểm trang ăn diện để cho mình tôi ngắm vì tôi thương cô”. Như thế là hỏng rồi, cái tình thương do lý trí phát sinh thì đòi hỏi đủ thứ chẳng khác gì một sự đổi chác. Tình thương xuất phát từ lý trí vừa cho ra mà vừa lấy vào, có thể trao đổi ngang bằng nhưng cũng có thể cho một mà nhận hai không chừng, nhưng nhất thiết là phải lấy vào, không lấy không được, đó là tình thương của lý trí.
Còn tình thương phát xuất từ con tim chỉ có tuôn ra chứ không quơ vào, chỉ cho đi mà không nhận về.
Những điều chúng tôi trình bày ở đây tuy dành cho lớp trẻ, nhưng ngay cả những người đứng tuổi, những cặp vợ chồng chung sống với nhau có mấy mặt con rồi cũng cần nhìn lại xem thử xưa nay vợ chồng có thương nhau thật sự hay không? Có khi kiểm tra lại quý vị mới giật mình vỗ tay xuống bàn mà nước mắt tuôn rơi: hoá ra mấy chục năm đầu ấp tay gối, có đến mấy đứa con rồi, cứ tưởng đâu là mình thương nhưng đó là chưa phải thương thật, chỉ là cái chấp ngã của mình thương chứ không phải vô ngã không phải tình thương một cách vô tư, vô điều kiện.
Cho nên dù đã lớn tuổi, đã chung sống với nhau bao nhiêu năm rồi cũng nên xem lại, đừng có chủ quan về tình thương đối với nhau. Tình thương của lý trí bao giờ cũng sử dụng đủ thứ lý lẽ để bảo vệ cho lòng ham muốn và ích kỷ của mình, thật nguy hiểm vô cùng.
Trước tiên phải khẳng định mình có yêu thật sự hay không, dù lớn tuổi rồi cũng nên kiểm tra lại, nếu không đúng vẫn còn cơ hội để thay đổi và yêu một cách đúng nghĩa. Từ đó cuộc sống sẽ thay đổi, không còn cãi cọ, không gắt gỏng nhau nữa, hai con người thực sự thương nhau thì sống êm đềm cho đến ngày răng long đầu bạc, tình thương như thế mới thật sâu sắc. Đừng lầm lẫn qua cách cư xử mà tưởng rằng mình thương thật. Nhưng cách cử xử tế nhị, sâu sắc cũng là biểu hiện của tình yêu chân thật.
Điểm thứ hai là khi đã khám phá ra tình thương chân thật thì mình san sẻ với mọi người cách nào? Đơn giản lắm, chúng ta đều được học qua giáo lý của Phật hết rồi, đều biết Đức Phật dạy Pháp tu quan trọng nhất là bố thí.
Kể cả các đấng Bồ Tát khi tu tập thì Pháp tu đầu tiên trong sáu lục độ để chứng ngộ hầu phục vụ chúng sanh vẫn là bố thí, kể cả trong Bát Chánh Đạo bố thí cũng lấy làm đầu. Vậy bố thí là gì? Bố thí là xả tâm, là sẵn sàng cho, chỉ biết cho chứ không bao giờ biết nhận.
Chúng ta cứ tập thử đi, tuy rằng khó lắm chứ không phải dễ. Bây giờ mình nói ra điều gì mà có người vỗ ngực xưng rằng họ biết hơn mình là đủ cảm thấy khó chịu rồi, ai mà dám chê bai cái hiểu biết của mình đã bực bội lắm rồi. Đó mới là chuyện hiểu biết không thôi, hơn thua với nhau về biết nhiều biết ít không thôi là đã dễ dẫn đến sinh sự rồi chứ đừng nói chi tới cái cho. Trước đây Phật nói rằng bố thí Pháp là cao quý nhất, nhưng điều đó nhằm áp dụng lúc xa xưa vào cái thời giáo lý Phật mới lưu truyền. Còn giờ đây Phật Pháp in đầy nhan nhản trên khắp thế giới, ai ai cũng có thể đọc được, nên các vị sư buộc phải cho những điều thực tế chứ không chỉ cho Giáo Pháp không thôi, mà phải sống, phải dùng thân pháp nữa. Ví dụ tôi là Phật tử của chùa, gia đình tôi đang gặp khó khăn, người thân bị bệnh hay trong nhà có đám tang, thế là tôi tới gặp thầy trụ trì, tôi than vãn, kể lể, bày tỏ hết nỗi niềm cho thầy trụ trì biết hoàn cảnh khó khăn trong gia đình tôi. Thầy trụ trì có thể nhờ các Phật tử khác hoặc tuỳ theo khả năng của chùa mà tìm cách giúp đỡ tôi. Cho nên các vị tu sĩ bây giờ phải bố thí Pháp, bố thí tiền, bố thí vô uý tức là phải huy động lực lượng để giúp cho người ta vượt qua khổ đau. Chứ còn bố thí giáo Pháp tuy cũng rất quý nhưng chưa đủ đối với thời buổi hiện nay.
Cho nên Pháp đầu tiên là phải tập bố thí. Tốt hơn hết là tìm người nào mà mình ghét nhất để tập thương họ cho được. Trong đời chúng ta thế nào cũng có người nào đó mà mình không ưa, bây giờ phải rán tập làm sao cho mình thương được họ thì coi như thành công. Suy cho cùng tuy nói rằng mình vì mọi người nhưng thật ra nếu mình tập thương được như thế thì người hưởng lợi trước nhất chính là mình. Tôi xin đảm bảo quý vị là người có lợi trước. Tự nhiên cuộc đời quý vị sẽ thay đổi, sẽ gặp nhiều sự may mắn, con cái trong nhà sẽ thayđổi tốt hơn, trong dòng họ cũng có chuyển biến tốt hơn.
Tôi cam đoan đây là thực tế sẽ xảy đến nếu chúng ta có tấm lòng thật sự trong tinh thần bố thí, khi nội tâm chúng ta thay đổi thì gia đình chúng ta cũng thay đổi, bà con dòng họ chúng ta cũng sẽ thay đổi. Cái thay đổi lớn laonhất của con người là sự thay đổi bên trong tâm hồn chứ không phải đổi từ xe Dream lên xe hơi, từ xe hơi lên máy bay, từ nhà nhỏ lên nhà to. Những thay đổi vật chất đó không bao giờ bền vững, bởi như dân gian vẫn nói, hễ lên voi thì phải xuống chó. Người nào dạy con: “Con ơi con cố gắng để được lên voi”, đứa con khôn ngoan sẽ trả lời ngay: “Mẹ ơi, vậy thì mẹ phải lo mua con chó để sẵn, bởi hôm nay con lên voi được biết đâu ngày mai con phải xuống chó!”. Nhưng nếu ta dạy con thay đổi trong nội tâm, bên trong tâm hồn thì dứt khoát nó không quan tâm đến cả voi lẫn chó. Lúc leo lên voi hay bước xuống chó nó đều bình thản, hễ có voi thì sử dụng voi, không có voi sử dụng chó, không có chó sử dụng cây cối cũng được, không có gì quan trọng cả.
Do đó sự thay đổi bên trong tâm hồn là sự thay đổi cần thiết nhất, quan trọng nhất và có giá trị nhất. Chúng ta hãy áp dụng phương cách như thế này: cái người mà từ xưa đến nay mình vốn ghét cay ghét đắng, thương không nổi, bây giờ mình rán tập sao cho đổi ghét thành thương. Lúc đầu khi mới tập mình cố làm ra vẻ thương, một tháng sau cái tình cảm miễn cưỡng đó sẽ bớt lần, thêm một tháng nữa sẽ cảm thấy gần giống như thương thật. Lúc đầu mới tập mình thấy kỳ quá, khó chịu lắm, nhưng sang tháng thứ hai thấy dễ chịu hơn, đến tháng thứ ba mình ngạc nhiên nhận thấy có lẽ mình thương thật và đến tháng thứ tư chắc chắn là mình thật sự thương họ.
Quý vị cứ rán tập thử coi, đó chính là sự thay đổi trong nội tâm, sự thay đổi bên trong mang lại nhiều điều kỳ lạ. Hễ nội tâm ta thay đổi liền kéo theo sự bừng nở của trí tuệ.
Đức Phật dùng hoa sen để chỉ sự thay đổi bên trong. Nếu chúng ta luyện tập có tình thương đối với mọi người, đầu tiên thương một người, rồi thương hai người, tập thương nhiều người thì lòng mình nở ra cũng giống như hoa sen.
Bây giờ mình bắt đầu tập, ngay khi có ý niệm sẽ tập thì trong lòng của quý vị đã hình thành nụ sen rồi. Chúng ta tập tháng thứ nhất, tháng thứ hai, tháng thứ ba, cho đến tháng thứ sáu nụ sen đó hé nở từng cánh, tình thương của mình phát triển rộng lớn nó trở thành nhiều cánh hơn, rồi dần dần nở hoa sen nở hoàn toàn ngàn cánh. Cho nên hình ảnh hoa sen của Phật giáo cốt để chỉ tình trạng này, chứ hoa sen không phải là ráng học kinh cho thuộc lòng. Dù có thuộc kinh, hiểu luật, hiểu luận thì hoa sen ấy cũng không nở.
Hoa sen là biểu tượng cho tình thương chân thành, tình thương vô ngã, vị tha, chứ hoa sen không phải là sự hiểu cao biết rộng, không phải như vậy đâu. Sự hiểu biết rộng lớn bằng tri thức, những điều mình học hỏi để thu thập sự hiểu biết không phải hoa sen, mà đôi khi lại là hoa độc không chừng, bởi vì như chúng tôi đã trình bày khi nãy, người học cao hiểu rộng chính là người có nhiều khả năng hại người cao nhất. Nhưng mặt khác họ cũng là những người có thể cống hiến lớn cho lợi ích của thế giới.
Việc tập luyện tình thương quả có khó khăn, ban đầu khi mới tập thì có vẻ lạ lùng và kỳ dị, nhưng cứ cố gắng ngày một ngày hai rồi sẽ đạt thành công. Chúng ta lưu ý điều này, một người có tâm hướng về Phật Pháp thì lúc nào cũng mơ ước được gặp Phật, mong nằm chiêm bao thấy Phật. Nhưng chúng tôi đã hé cho thấy quý vị chính là Phật và Phật của quý vị là quan trọng hơn hết, còn Phật trong giấc chiêm bao không quan trọng bằng đâu. Nếu quả thật trong giấc chiêm bao ta gặp được Phật, hay là nhìn thấy rõ ràng Phật hiện ra ngay trước mặt mình đây, thì ông Phật đó cũng chỉ muốn nhắc nhở rằng: “Ta giúp cho con thấy Phật của con thôi, chứ ta không làm được gì cho con đâu, chính Phật của con mới giúp cho con đấy”. Và cũng cần nên nhận ra rằng hình ảnh mà quý vị thấy ấy làm sao khẳng định là Phật, là Bồ Tát.
Thật vậy, ta niệm Quan Âm là để Phật trong ta hiện ra, niệm Phật cũng để Phật trong người hiện ra, niệm chú nhằm cầu Phật trong người mình xuất hiện. Vậy thì quý vị cứ sẵn lòng mà ứng dụng tình thương vào trong cuộc sống và nâng đỡ cho nhau. Hàng tháng lại tập trung về chùa nhờ Sư Cô ở đây hướng dẫn thêm, nhờ các huynh đệ đã có kinh nghiệm hướng dẫn thêm để cùng tập với nhau, bởi vì việc này khó vô cùng.
Chúng ta bắt đầu bằng việc rất đơn giản, chẳng hạn như hai vợ chồng tuy nhìn bên ngoài cuộc sống chung có vẻ êm ấm nhưng bên trong có nhiều điều không hài lòng về nhau. Bắt đầu từ bây giờ cả hai cố gắng trải tình thương thật sự với nhau, rán tập chấp nhận nhau, bằng lòng về nhau. Điều này cũng khó chứ không đơn giản, nhưng rán tập hoài thì sẽ thành công. Riêng các thanh niên nam nữ chưa có gia đình, hôm nay tôi đã trình bày sơ lược một số kinh nghiệm về tình yêu rồi, hãy theo đó mà xử sự và nhất là hết sức thận trọng khi tới với tình yêu.
Buổi trao đổi hôm nay của chúng ta đến đây cũng tạm đủ.
Tôi cầu nguyện cho quý vị thường an lạc.
Xin hồi hướng công đức này đến tất cả chúng sanh cùng an lạc.
Duy Tuệ