AABA
Bài Viết21/12/2004Khoảng 16 phút đọcGiọng đọc tự động · 12:18

Trả Lời Một Vị Thanh Niên Hà Nội

Duy Khôi là một thanh niên Thành phố Hà Nội Việt Nam có đức tin với Đức Phật. Khôi hỏi như sau: “Con kính chào Thầy ! Con là Phạm Duy Khôi. Con biết Thầy rất bận. Xin Thầy bớt chút thời gian giáo hoá cho chúng con mấy ý sau đây: - Con làm thế nào để học Phật một cách nhanh nhất? - Đời sống hiện nay có nhiều người làm ác với dân, kể cả với người thân mà họ vẫn nhỡn nhơ không bị quả báo như Phật đã nói? Số mệnh của con người Đạo Phật hiểu như thế nào? - Tại sao nói: Phật tại tâm. Thế thì Chúa có tại tâm không? Cách giáo dục gì của đạo Ki-Tô lại hầu như quản được tư tưởng và tâm hồn của giáo dân, nhất là thanh niên, đạo Phật chưa được như thế - Có phải lên cõi Niết bàn là hoàn tất cuối cùng của cuộc đời? - Làm giàu cho cá nhân và cộng đồng đi theo hướng nào là đúng chánh pháp? - Trong tình yêu lứa đôi làm thế nào để có sự bền vững? Con mong thư Thầy.” Hôm nay có chút thì giờ, Thầy lần lượt trả lời những nội dung Khôi nêu ra. * Làm thế nào để học Phật một cách nhanh nhất? Có người bảo là học Phật ở trong chùa, người khác lại bảo học Phật trong các kinh của đạo Phật, một số người khác lại nói học với các sư Phật Giáo. Kinh sách thì được các nhà nghiên cứu xa xưa chia ra làm ba thứ: Kinh, Luật, và Luận. Phật Giáo lại chia làm hai hệ phái, Đại Thừa và Nguyên Thuỷ. Bên Nguyên Thuỷ và ngay trong một số nhà nghiên cứu Đại Thừa lại nói rằng phần lớn kinh Đại Thừa là do nhiều vị viết lại từ các kinh bằng tiếng Pa-li của Hệ Phái Nguyên Thuỷ chứ không phải Phật thuyết. Tuy nhiên hai hệ phái cũng thừa nhận những nét cơ bản giống nhau như thuyết Tứ Đế(bốn chân lý), Vô Ngã và Duyên Sinh. Nếu là tu sĩ thụộc hệ phái nào thì sẽ phải học những kinh, luật và luận của hệ phái đó và cũng có thể nghiên cứu kinh, luật va luận của hệ phái kia. Nhưng dù hệ phái nào cũng lấy sự soi rọi tâm là chính thông qua con đường thiền định. Còn nếu như người không phải là tu sĩ cũng không phải là Cư Sĩ tại gia thì việc học Phật là nhằm đến một mục đích là khai mở tâm trí của mình. Với mục đích ấy thì sẽ có cách học đặc biệt hơn. Nhưng nên nhớ rằng đừng lầm lẫn học nhanh với học đúng lòng mong mỏi của Đức Phật. Tôi cũng nói luôn rằng không có việc học nhanh, mà chỉ có việc học đúng ngay vào nội dung mà Đức Phật mong muốn chúng sanh đạt đến. Người có duyên lành nên học thẳng vào bản chất của tâm. Phải khảo sát tâm thường ngày để nhận ra bản chất của nó (xem lại một số bài đã thuyết giảng và đang có trên website: www.daosuduytue.com). Phải làm việc ấy suốt cả cuộc đời của mình. Sự thật là như vậy. Nhưng có một sự động viên lớn ở đây cho quý vị là khi nào quý vị bắt đầu một cuộc cách mạng đối với nội tâm của mình, khảo sát bản chất của tâm, thì ngay ngày ấy phước báu và lợi lạc đã đến với mình và với những người thân của mình. Tôi hoàn toàn bảo đảm việc nầy là thật. * Đời sống hiện nay có nhiều người làm ác với dân, kể cả người thân mà họ vẫn nhỡn nhơ không bị quả báo như Phật đã nói? Số mệnh của con người Đạo Phật hiểu như thế nào? Luật nhân quả thông thường nhiều người dễ thấy qua các sự kiện xảy ra, ví dụ người ăn cắp khi bị bắt phải chịu phạt tù hoặc tiền. Có điều lý thú mà bạn nên chú ý khi nói về nhân quả đó là: Sức chiêu cảm của năng lượng nội tâm. Đây là một khái niệm qua nhiều năm tu tập và trãi nghiệm mà tôi đã nhận ra điều nầy: sự chiêu cảm của năng lượng nội tâm. Khi một người có ý nghĩ xấu xa như muốn ăn cắp vật gì của ai, hoặc có một âm mưu hại người cướp của, hoặc một thủ đoạn để lấy tiền từ ngân hàng, hoặc một thủ đoạn để được thăng chức, hoặc thủ đoạn bắt chặt người để được của hối lộ, hoặc một thủ đoạn hối lộ để được hưởng lợi lớn bất chính, hoặc một hành vi lợi dụng chức quyền để hưởng lợi cá nhân bất chính, hoặc một thủ đoạn lừa gạt để hưởng lợi v.v...thì những thứ ý nghĩ ấy hoặc những hành động ấy lưu lại trong tâm ở một nơi rất bí mật không ai có thể biết được, dù đó là một “đại thiền sư”. Sự tích luỹ nầy không bao lâu sẽ tạo ra một năng lượng rất mạnh đủ sức chiêu cảm những điều chẵng lành bao quanh nạn nhân rất huyền bí vô hình mà tôi tạm gọi là lớp sương u ám bí mật mà nạn nhân không thể nhận biết được. Lớp sương u-ám bí mật là một chiến trường hay một toà án để xử chính nạn nhân một cách nghiêm ngặt nhất mà chính họ cũng không nhận ra được. Sương mù bất hạnh quay chung quanh năng lượng ám độn và sức nóng của nó ngày càng tăng dần không có một thế lực nào có thể hoá giải được, kể cả sức mạnh thanh tịnh của hàng vạn Tịnh Tăng cũng không can thiệp vào được, cũng không có thứ bùa chú nào hoá giải được, không một thứ lễ “cúng sao giải hạn” nào có thể hoá giải được. Quả báo sẽ bắt đầu xuất hiện âm thầm cho riêng họ. Những nỗi đau buồn âm thầm đến với riêng họ mà những người thân chung quanh cũng chưa nhận ra được. Chính nạn nhân nầy cũng không nhận ra sự quả báo âm thầm nầy. Loại quả báo nầy âm thầm dẫn dắt nạn nhân vào các thế giới huyền ảo mà nạn nhân lại cảm thấy mình như đạt những hạnh phúc mới lạ do vật chất đem lại. Thế giới huyền ảo ấy chính do năng lượng u-ám của tâm tạo ra và sẽ được một loại trí có tính chất trí trá sẽ an ủi họ rằng “chuyện nầy không liên quan đến nhân quả, đừng sợ, hãy hưởng thụ đi, nó là phần thưởng dành cho ngài đó”. Nạn nhân luôn thấy mình đúng trong mọi tình huống. Dần dần sương mù ám độn nầy sẽ phủ dần lên những người thân yêu nhất của nạn nhân lúc đang sống hiện tiền bên cạnh họ. Sau đó sức mạnh ám độn nầy sẽ chiêu cảm những oan hồn nhiều kiếp có mối quan hệ thân thương với nạn nhân và những oan hồn ấy cũng cảm thấy nóng lên như trong lò lửa. Những oan hồn nào có duyên lành sẽ về báo mộng cho nạn nhân hoặc tạo một hiện tượng lạ để nạn nhân nhận biết ra những lỗi lầm của mình. Nhưng thông thường các oan hồn không đủ sức mạnh đế làm việc ấy. Sức mạnh của lớp sương ám độn nầy sẽ hoà nhập vào năng lượng ám độn của tâm hồn nạn nhân và sẽ trở thành một thân trung ấm(thân trung gian) cho phần linh hồn của nạn nhân khi bỏ xác. Thân trung gian nầy dẫn dắt tầm hồn của nạn nhân lang thang như ma quỷ và đến một lúc nào đó sẽ dẫn dắt đầu thai vào những cảnh sống bất hạnh nhất. Đặc biệt trong lúc nạn nhân chưa lìa xác thân, đám mây u-ám đi theo nạn nhân như hình với bóng và lực ám-độn sẽ tham dự vào lý trí và tình cảm của nạn nhân như để dẫn dắt nạn nhân tiếp tục vào thế giới tội lỗi mà nạn nhân cứ tưởng như là thiên đường, tưởng như là một sự thành công trong đời mình vậy. Đối với loại quả báo bất hạnh mà nhiều người có thể thấy đôi khi có thể xảy ra cho nạn nhân trong kiếp nầy nhưng đôi khi trong những kiếp khác hoặc quả báo như là ma quỹ trong cõi vô hình. Nhưng quả báo bí mật mà họ nhận lãnh âm thầm trong gia đình của họ là không tránh khỏi trong kiếp nầy. Nghĩa là những nỗi khổ đau riêng tư bên trong chỉ có nạn nhân mới biết sẽ xuất hiện nhanh chóng, và những quả báo nầy mới thật sự đáng sợ bởi nó như một bản án tử hình không công bố và nạn nhân luôn bị tra tấn. Dù cho nạn nhân muốn chết đi cho hết chịu đựng sự tra tấn nhưng không thể được. Nó tra tấn nạn nhân như một người chịu án tử hình không bằng những viên đạn mà bằng những cách làm đau lâu dài cho đến khi chết! Tôi tạm dừng nơi đây và quý vị có thể hiểu và hình dung thêm sự phát triển của quả báo nầy như sự phát tán của các loại vi khuẩn giết người như vi khuẩn của bệnh SAR vậy. *Số mệnh của con người Đạo Phật hiểu như thế nào? Đức Phật không nhìn thấy con người có số mệnh, nhưng Ngài dạy rằng con người là đau khổ. Nghĩa là cuộc sống con người luôn luôn bất ổn từ tinh thần cho đến vật chất. Con người không thể tránh khỏi già, bệnh, và chết; con người cũng khó tránh cảnh đầu thai tiếp tục làm một sinh vật có sự sống và phải chịu đau khổ. Tuy nhiên nếu con người cố gắng công phu tu tập phần tinh thần thì có thể hiển lộ được thứ trí tuệ đặc biệt mà Ngài tạm gọi là trí tuệ giải thoát. Ngài dùng hình ảnh hoa sen để chỉ trạng thái tâm được khai sáng. Khi tâm được khai sáng thì con người có thể chấm dứt sự đau khổ của tinh thần và có thể tránh được đầu thai lại hoặc đầu thai theo ý định cũng được. Ngài nhìn con người là nhìn sự diễn biến của phần tinh thần và bản chất của tinh thần. Phật nhìn đời sống tinh thần và khả năng vô tận của nó mà con người có thể tận dụng khả năng nầy để được thăng hoa, nghĩa là vượt ra khỏi mọi trói buộc để thênh thang trong cuộc đời mà mình đang hiện hữu. * Tại sao nói Phật tại tâm? Thế thì Chúa có tại tâm không? Cách giáo dục gì của Đạo Ki-Tô lại hầu như quản được tư tưởng và tâm hồn của giáo dân, đặc biệt là thanh niên, Đạo Phật chưa đựơc như thế. “Phật tại tâm” là khái niệm xuất phát từ sự sai lầm của nhiều người không hiểu được điểm cốt lõi của lời Đức Phật dạy. Họ mãi mê theo học những pháp tu luyện không nhằm khám phá bản chất của tâm mà lại thích chạy theo hình tướng và bị các hình tướng chi phối. Đọc kinh thì cứ chạy theo hiểu kinh, thay vi hiểu mình; học với ông thầy thì chạy theo hiểu một cách mù quáng về ông thầy, thay vì nhờ thầy mà hiểu mình. Họ thường bị các hình tướng dẫn dắt ngày càng xa với nội tâm. Một vị sư đang mặc áo cà sa đi chậm rãi mắt lim dim thì người Phật Tử nhìn giống như là thánh sống. Nhưng nếu cũng vị sư ấy mà mặc đồ thường và lao động bình thường thì người Phật tử cảm thấy họ giống “kẻ phàm phu tục tử”, giống như “người không được tử tế”. Cũng chính vì điểm hình thức nầy mà đôi bên đôi khi cũng phải ngậm ngùi. Điều cốt lõi Phật dạy là chúng sanh hãy khám phá bản chất tâm của mình để tâm được khai sáng. Khi tâm được khai sáng tự nhiên người ấy sẽ hiểu được bản chất của tất cả các hiện tượng thấy được, cảm nhận được cũng như những thứ không thấy được nhưng biết rằng nó đang tồn tại. Ví dụ như tâm con người thực sự tồn tại cùng với thân nhưng con người không cầm nắm được tâm, không thấy được tâm, không người được mùi của tâm nhưng nó thực sự tồn tại theo các nhân duyên nhất định. Khi một người đã hiểu bản chất của tâm rồi thì trí tuệ riêng của người đó sẽ xuất hiện. Còn trí tuệ trong kinh và của ông thầy là của kinh và của ông thầy đừng đem những thứ đã nghe đã học nhai đi nhai lại chỉ hại mình và hại người mà thôi. Một khi trí tuệ riêng của mình đã được bộc lộ thì mình dùng được kinh, nếu chưa thì kinh sẽ dùng mình, hãy coi chừng. Nếu hiểu Thượng Đế là một trạng thái bản chất của các hình tướng đang vận động như các vì sao, quả đất nầy, cây cối, sinh vật v.v.. thì Thượng Đế cũng tại tâm vì bản chất thật của tâm cũng chính là bản chất thật của tất cả cái gì xuất hiện, tiến hoá và huỷ diệt. Nhưng nếu nói Thượng Đế là một sinh vật cũng giống như loài người đã và đang ở đâu đó xa xôi với hành tinh nầy có quyền năng thưởng phạt thì Thượng Đế không phải tại tâm. Về truyền thống giáo dục của Ki-Tô giáo: Tôi đã đọc Bible và những ngày sống tại Mỹ hơn một năm qua tôi đã tiếp xúc, nói chuyện và dự thính nhiều khoá đào tạo người thuyết giảng Bible và nếu quý vị cũng làm như vậy thì sẽ thấy rõ những điều sau đây thường được nhắc tới: các tín đồ phải tuyệt đối tin rằng có một Thiên Chúa duy nhất nơi cõi trời xa xôi đầy quyền năng có thể cứu rỗi hoặc trừng phạt ai đó ở hành tinh nầy. Trong Bible cũng nói nhiều đến đạo đức làm người theo quan niệm truyền thống Ki-Tô Giáo nhưng để tín đồ phải chấp nhận những điều răn ấy thì cũng có những lời dạy mang tính chất hăm doạ răn đe và trù dập. Chính những sự răn đe, hù doạ, và chửi rủa trù dập nầy đã làm cho tín đồ phải có một kỹ luật trong đức tin. Trong Bible đức tin là tuyệt đối, nghĩa là chỉ có tin mà không được bình luận về Thiên Chúa là phẩm chất cao quý nhất của tín đồ. Ngay cả trong tình yêu riêng tư của người tín đồ nếu người ấy cho Thiên Chúa biết về tình yêu riêng tư của họ và người ấy cũng yêu Thiên Chúa nữa thì tình yêu ấy mới được gọi là tốt. Ngược với truyền thống nầy, Đức Phật Thích Ca khi nói về đức tin Ngài lại dạy không nên tin vội vàng những gì Ngài dạy mà hãy kiểm nghiệm nó để nhận ra sự đích thực, sự hợp lý với khả năng nhận biết của mình rồi lúc ấy hãy tin. Bible nói rằng hãy tuyệt đối tin rằng có một Thiên Chúa đang ngự trị và hãy làm theo lời Ngài phán truyền trong Bible để được cứu rỗi. Còn Đức Phật lại dạy rằng chính tâm vô nhiễm, trạng thái sáng suốt nhất chính là Phật, ai rồi cũng là Phật, hễ ai nhận ra được bản chất của tâm thì người ấy hiển lộ là Phật. Phật muốn chỉ cho con người thế giới tự do toàn vẹn mà mỗi người đều có sẽ giúp cho con người vượt qua khổ đau và con người phải chịu trách nhiệm với số phận của mình, phải dựa chính mình, phải tự đốt đuốc lên mà đi, hãy dựa vào chính sự sáng suốt của mình. (Ở đây tôi cũng muốn lưu ý thêm khi nói đến từ Phật. Nhiều người có thói quen khi nói từ Phật thì liền cho rằng đó là đức Phật Thích Ca. Thật ra khi nói Đức Phật Thích Ca là nói đến một con người cụ thể bằng xương bằng thịt. Nhưng khi nói đến từ Phật không thôi thì phải nên hiểu rằng người nói muốn nhấn mạnh đến trạng thái khai sáng của tâm. Cho nên nói “ Phật tại tâm” là nói đến sự khai sáng trong tâm chứ không phải nói Ngài Thích Ca ngồi trong tâm mình.) Và như vậy Đức Phật không chú trọng đến việc nắm giữ con người, Ngài chú trọng đến việc giúp con người tự giải phóng mình ra khỏi mọi sự ngu xuẩn. Cho nên về cơ bản, các đệ tử của Ngài cũng không quan tâm đến các thủ đoạn dùng thần quyền để nắm linh hồn những người hèn yếu hay sợ sệt. Phải nên nhớ rằng vì muốn lôi cuốn và nắm giữ tín đồ mà Ki-Tô Giáo và vài tôn giáo khác đã sử dụng nhiều thủ đoạn kể cả tiến hành chiến tranh để tranh giành tín đồ. Phần đông con người rất sợ sệt trước sự bấp bênh của mạng sống. Trong quá khứ và hiện nay những người tâm được khai phóng thì trí tuệ phát triển và họ hiểu được bản chất của tất cả các hiện tượng và sự vật thì họ không có gì để sợ. Họ không sợ trong sự hiểu biết khác với sự không sợ vì liều mạng. Người mà không sợ do sự hiểu biết đem lại thì có lòng thương người rộng lớn và sự dũng cảm mang tính chất thanh thản trong tâm hồn, chứ không mang tính sân hận. Còn người mà can đảm không sợ chết do vô minh sẽ hành động trong giận dữ điên cuồn. Tôi cho rằng nếu những ngươì hành đạo trong Đạo Phật mà muốn ra sức dùng thần quyền ảo mộng để hù doạ tín đồ, để lôi kéo tín đồ thì họ cũng có thể làm tốt không thua kém gì các tôn giáo khác. Tôi dừng lại ở đây và các bạn cũng có thể hiểu được những điểm căn bản của vấn đề. Phần còn lại tôi sẽ cố gắng nói trong vài ngày tới. Madison ngày 21/12/2004 (ngoài trời thời tiết đang là -15C.) (TIẾP THEO VÀ HẾT)
AABA · Lưu giữ những sự thấy và cảm hứng của Aaba.