AABA
Bài Viết26/03/2006Khoảng 33 phút đọcGiọng đọc tự động · 25:30

Thanh Lọc Tâm Hồn

Tại Đạo Tràng Khai Tâm ở California, tôi đã có một số lần trao đổi về những chướng ngại cho con đường thiền định và thường nói về kỹ luật của tâm vô nhiễm. Dưới đây là bài tóm lượt một phần các ý chính mà tôi muốn chia sẽ với các bạn. Tôi chỉ tập trung vào những vấn đề có tính chất khó thay đổi gây bất lợi cho tâm vô nhiễm và chia sẽ với quý vị những cách thức tiến tới thực hành thiền trong đời sống hàng ngày. Tôi xin nhắc lại rằng Thiền phải xảy ra trên mọi lãnh vực của cuộc sống từ chính trị, kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, quản trị, giáo dục, tài chánh ngân hàng, sản xuất nơi đồng ruộng và công xưởng, giao tiếp trong gia đình, ngoài xã hội, nơi làm việc, lao động, và những lúc nghỉ ngơi thư giản. Thiền là cơ hội duy nhất để tâm một con người được tĩnh lặng. Khi tâm tĩnh lặng thì tâm con người ấy trong tình trạng tỉnh táo và ý thức cao đối với tất cả các vấn đề đang đến với con người ấy. Sự tĩnh lặng ấy là trạng thái niết-bàn và sẵn sàng cung cấp đại trí tuệ siêu vượt thế gian và phóng ra những cảm xúc yêu thương rất cần thiết cho con người và các loài chúng sanh chung quanh con người. Ích lợi của tâm bình lặng thì nhiều vô kể. Nó chính là mục đích của con người khi chấp nhận lòng tin vào Phật. Nó đích thực là điểm căn bản mà Chư Phật mong muốn con người đạt đến. Nó đem lại vẽ đẹp về thể xác lẫn tâm hồn. Nó là chất lượng đích thực của con người mà Chư Phật đã dày công truyền giảng cho con người. Khi ở trạng thái ấy tâm của con người là vô tận, là Đạo; năng lượng của con người là vô tận. Ở trạng thái ấy tâm của con người khi được con tim và bộ óc kích hoạt sẽ rực rỡ trí tuệ và tình yêu lợi lạc muôn loài. Chúng ta hãy nghiên cứu những vấn đề cản trở cho thiền định, cản trở cho khả năng hoạt động của tâm trong lành hay tinh khiết để con người phát triển đại trí tuệ sáng tạo, cản trở khả năng trở thành người sáng tạo thay đổi hoàn cảnh sống cho con người ấy và cộng đồng cùng các loài vật chung quanh. Nói cách khác, chúng ta khảo sát những thứ làm cho con người tê liệt đầu óc và tâm hồn, làm cho con người cứng đờ trong một cái khuông. Những vấn đề ấy lần lượt được nêu ra dưới đây : 1/ Trước nhất tôi muốn nói đến những khuôn mẫu đánh giá (stereotype) con người đã in sâu trong đầu óc và tâm hồn quá lâu đời đến nỗi con người ấy không còn cái tâm vô tư nữa. Ví dụ khi các bạn đọc kinh sách Phật Giáo, các bạn sẽ thấy hình ảnh người phụ nữ thật là tồi tệ như là ham muốn tình dục quá độ, tâm hồn dơ bẩn, không đủ trí thông minh, khó thực hiện những lời Phật dạy, lòng tham vô đáy, hủy hoại Phật Pháp.v.v.. “Người phụ nữ phải cố gắng tu hành để sau nầy đầu thai làm nam giới!” Những đánh giá như vậy trong kinh lâu ngày đã thành định kiến sâu dày trong giới tu sĩ và ngay cả chính trong giới phật tử. Ngay như Phật Giáo Nam Tông bên Thái Lan, Lào, Campuchia chẳng hạn không cho người phụ nữ trở thành tỳ kheo như nam giới. Bên Phật Giáo Bắc Tông hay Đại thừa thì chấp nhận phụ nử có thể trở thành tỳ kheo ni nhưng sự phân biệt đối xử hay thiếu bình đẵng hay không công nhận khả năng đạt giác ngộ của họ hiện vẫn còn tồn tại rất lớn. “Phụ nữ tu để sau nầy chuyển kiếp thành đàn ông mà thôi vì người nữ nghiệp rất nặng.” Có lần tôi đến thăm và gặp nhiều ni trưởng đang có mặt tại Tịnh Xá Ngọc Phương, lúc ấy tôi có nghe một ni trưởng tuổi độ gần bảy mươi phàn nàn rằng : “Mình đi tu từ nhỏ nay đã mấy chục năm rồi mà vẫn bị các sư nói là nghiệp mình vẫn nặng lắm, nghiệp gì mà sâu dày quá vậy.” Trong thực tế ngày nay chúng ta thấy hầu hết tỳ kheo ni đều đạt được hai phần giáo dục : giáo dục của nhà trường phổ thông và giáo dục Phật Giáo. Rất nhiều nữ tu sĩ đạt những thành tích cá nhân rất cao về giáo dục và khả năng giác ngộ. Như ở Việt nam có Sư cô Thích Nữ Trí Hải, Sư Bà Diệu Không, Tỳ kheo ni Huệ Giác trụ trì và lãnh đạo Tu Viện Quán Âm ở tỉnh Đồng Nai. Tại Đài Loan, số nữ tu sĩ chiếm từ 70% đến 75% trong các tu viện Phật Giáo. Các nữ tu có nhiều uy tín trong xã hội hơn là nam tu sĩ. Có nhiều Nữ tu như tỳ kheo ni Hiu-Van và Cheng-Yen là những vị có bằng cấp cao và là những người sáng lập ra đại học nổi tiếng Hua Fan và tu viện nổi tiếng Luminary. Về giáo dục, ngày nay tại Hoa Kỳ, tất cả các trường College hay đại học tỷ lệ nữ sinh đông hơn nam sinh. Về các vị trí chính trị lãnh đạo quốc gia, hiện nay có nhiều phụ nữ là tổng thống như ở Philippine và Chile, và nữ thủ tướng như ở Cộng Hòa Liên Bang Đức và Hàn quốc mới đây. Ngoài ra vấn đề cân bằng giới tính trong xã hội là rất quan trọng cho sự cân đối tồn tại của xã hội. Bên cạnh ấy chúng ta cũng cần xét thêm vài vấn đề khác có liên quan đến giới tính nữa, ví dụ cúng ta coi thử trong các nhà tù về tội phạm tại các quốc gia trên thế giới nữ hay nam giới nhiều hơn; hoặc như lòng thương người và niềm tin tôn giáo thì giới tính nào chiếm ưu thế về số lượng? Như vậy phụ nữ phấn đấu tu hành gian khổ để chuyển kiếp thành đàn ông để làm gì? Trong Phật Giáo có câu rất phổ thông, “Y kinh diễn nghĩa, Tam Thế Phật Oan.” Câu nói rất hay nầy chỉ để nói cho vui chứ ít ai thực hiện. Cái quý nhất của con người là sự hiểu biết và lòng yêu thương. Hai cái vốn quý nầy hiện nay thể hiện rất rõ nét ở giới nữ. Tôi sẽ có một khảo luận riêng về vấn đề nầy để mọi người nên hiểu trí tuệ của Chư Phật thật sự nằm ở chỗ nào để tránh hiểu nhầm như nhiều người Mỹ đã nói với tôi là đức Phật Thích Ca không công bình trong vấn đề nầy. Tôi muốn nói Đại trí tuệ của Chư Phật không hoàn toàn nằm trong các chữ của các kinh sách. Nhưng lỗi hiện nay không nằm trong tư tưởng của các nhà sư mà là ở hệ thống đã quá lâu đời. Hệ thống nầy không thích nghi (up date and adjust) với sự phát triển của xã hội loài người nhưng không ai dám thay đổi. Không ai có đủ đại bi, đại trí và đại hùng để thực hiện điều nầy. May ra sau nầy có một chính phủ nào đó thật sự tôn trọng giá trị của tôn giáo và giúp cho hệ thống tôn giáo thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Ngày ấy tôn giáo sẽ thật sự đem lại nhiều lợi lạc cho con người. Trong nhiều khuôn mẫu đánh giá mà con người bị ảnh hưởng cho sự tiến bộ của tâm linh bao gồm cả những ý nghĩ rằng người tu sĩ thực sự có giá trị là người tu sĩ ấy phải đi tu từ rất nhỏ và lớn lên không có tình yêu với người phụ nữ hay không có gia đình. Tôi thấy có vài vị tu sĩ lên đài báo nói oang oang điều nầy và vài người tiến bộ khi nghe thấy điều nầy đâm ra nghi ngờ giá trị của Đức Phật vì Phật có vợ, có con, có nhiều tỳ nữ xinh đẹp trước khi Đức Phật từ bỏ gia đình để đi tìm chân lý (Tôi cũng sẽ có dịp nói thêm về vấn đề nầy). Hoặc ăn chay mới là người tu, còn ăn mặn không phải người tu đích thực theo Phật. Tất cả những loại khuôn mẫu đánh giá nầy sẽ giết dần con người hoặc đánh mất bao nhiêu cơ hội tốt đẹp để con người thực sự thành những sinh vật sáng tạo quý giá vô cùng. Cần nhận thức được sự tác hại nầy để Tâm Thiền hé mở. 2/ Vấn đề thứ hai là sự xơ cứng và giáo điều của những hệ thống hay tổ chức mà con người nằm trong đó phải chịu chi phối như những kẻ nô lệ tự nguyện. Đó là những hệ thống hay tổ chức hoạt động lâu đời nhưng không có khả năng thích nghi được với sự thay đổi quá nhanh chóng của xã hội loài người bao gồm thay đổi về cách tư duy, thay đổi về các hình thái kinh tế, hình thái chính trị, xã hội và văn hóa, và ngay cả cách sống, cách thể hiện yêu thương hay các cách giao tiếp trong đời thường. Một tổ chức hay hệ thống xơ cứng không linh hoạt thích ứng với thực tại đang thay đổi của xã hội sẽ giết dần những con người trong tổ chức ấy, sẽ làm giảm dần uy tín của tổ chức ấy, của cộng đồng thuộc tổ chức ấy, sẽ làm cho cộng đồng tin tưởng vào tổ chức ấy dần dần rời bỏ hàng ngủ và trở thành những người không còn chỗ dựa an toàn cho tinh thần của mình, đôi khi họ còn bị cảm thấy xấu hổ và chờ ngày thay đổi thái độ của họ bởi vì lợi ích của họ ngày càng ít đi và sự tốn kém lại tăng nhiều. Những thành viên của cộng đồng trở thành kẻ bị lợi dụng mà thôi. Người thật sự hưởng lợi về vật chất là những người cố bám chặt vào hệ thống củ rích nầy. Chính trị hay Tôn giáo là những hình thức như những hệ thống chi phối con người về lòng tin, về tinh thần, về tư tưởng, về phát triển văn hóa, và về giáo dục và cả kinh tế nữa. Một hệ thống chính trị bao gồm các lãnh vực rộng lớn thiết thân của đời sống con người trong quốc gia ấy. Nếu hệ thống chính trị và giáo dục nào xây dựng luật pháp nhắm vào khai phóng tâm hồn con người như là một chủ thể của tự do sáng tạo cho chính nó thì dân tộc ấy sẽ văn minh và sung mãn, dân tộc ấy sẽ có nhiều uy tín trên thế giới và những công dân nước ấy đi đâu cũng cảm thấy tự hào. Những tổ chức tôn giáo như Phật Giáo chẵng hạn thực sự nhắm vào sự khai phóng tâm hồn cho từng con người nhưng bản thân những tổ chức nầy cứ tự cho mình như là một chủ thể bất khả xâm phạm, bất khả thay đổi. Không ai có quyền phê phán hay chỉ trích. Nếu ai làm như vậy tức là ngạo mạn, là vô lễ, là sẽ bị đọa địa ngục. Chính những sự xơ cứng nầy đã kìm hãm sự phát triển của Phật Giáo, một tôn giáo có giáo lý rất nhân bản và rất lâu đời. Thậm chí có những điều chướng tai gai mắt làm mất niềm tin của phật tử do một số tu sĩ xấu gây ra thì phật tử không được quyền góp ý, không ai dám nói cả, cứ ấp ủ trong ấy với nhau mãi thôi. Phật tử chỉ có một bổn phận duy nhất là cúng dường và nghe lời các Tăng Ni thôi, dù tăng ni có hư chăng nữa cũng mặc. Giáo dục những tín đồ như vậy việc gì sẽ xảy ra cho Phật Giáo, cho tăng ni, cho tín đồ? Đi nhiều nơi trên thế giới, tôi phải nhìn nhận rằng Phật Giáo Việt Nam có những thời kỳ sáng chói về trí tuệ, về lòng đại bi, về những tấm gương thực hiện sự từ bỏ cá nhân vĩ đại để chung lo cuộc sống cho toàn dân. Ai cũng biết những bậc đại trí, đại từ, đại dũng như Thiền Sư Vạn hạnh, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông chẵng thua kém gì các bậc Đại giác ở các nước. Nhưng khốn nổi lòng sùng bái vọng ngoại quá lớn, sùng bái về y-áo, sùng bái về tên tuổi, sùng bái một cách quá đáng như là điều tự hào cho cá nhân mình. Những bậc tài đức vĩ đại trong đất nước chỉ để làm cảnh cho vui, chứ lòng người ít khi thật sự khám phá giá trị cao cả để một lòng kính phục và tôn vinh. Cũng có khi ai đó thờ Trần Nhân Tông và rao giảng về Trần Nhân Tông nhưng trong lòng đã có “Tổ” rồi. “Tổ ở xứ sở to lớn đáng tin cậy hơn!”, “Tổ Ngoại” oai hơn “Tổ Nội”. Họ làm cho những tín đồ theo họ thấy “Tổ Ngoại” là linh thiêng cao cả hơn “Tổ nội”. Thân trong nước mà hồn thì để ở đâu đâu! Chúng ta nên hiểu đơn giản rằng nước uống trên hành tình nầy cơ bản là như nhau. Đừng nghĩ rằng nước uống ở một quốc gia nào đó thì tốt hơn của quốc gia mình. Nếu các tổ chức hay hệ thống có liên quan đến nhiều người như vậy mà linh hoạt và thích nghi kịp với sự đổi thay quá nhanh chóng của xã hội thì quả thật hệ thống ấy rất bổ ích cho con người. Nhưng trên thực tế các hệ thống ấy chưa thay đổi thích đáng hay thường xuyên qua các thời đại. Sự thay đổi chỉ xảy ra ở những cá nhân đặc biệt và nằm ngoài hệ thống nên cũng chưa đủ mạnh để tạo sự chuyển động cho toàn cộng đồng. Về sự thay đổi của hệ thống, như chúng ta đã từng chứng kiến trong lịch sử chính trị cận đại và hiện đại là do yêu cầu bức bách của sự thay đổi về kinh tế toàn cầu, và sự thay đổi về cách ứng xử theo hướng xích lại gần nhau do công nghệ thông tin đem lại. Ngày nay việc đối đầu về ý thức hệ giữa các quốc gia gần như không còn gay gắt nữa vì nhiều lý do trong đó có lý do là khoa học công nghệ thông tin phát triển quá nhanh làm cho thế giới thay đổi cả về kinh tế, văn hóa và tư duy mà các quốc gia cần phải ngồi chung lại với nhau để cùng nhau bàn những chuyện có lợi cho riêng dân tộc mình mà không mâu thuẩn với quyền lợi của các dân tộc khác. Như buôn bán ngày nay không còn phụ thuộc vào các chợ hay siêu thị như trước đây mà một sự mua bán qua hệ thống điện tử diễn ra rộng khắp thế giới. Một người ở nước nầy có thể mua một món hàng rất nhỏ ở một nước khác thông qua Internet rất nhanh chóng và tiện lợi. Hải quan các nước bắt buộc phải làm các thủ tục để hàng hóa được vận chuyển nhanh nhất. Trí tuệ hay sự sáng tạo của con người đã làm thay đổi mọi thứ. Những sáng tạo mới toanh ấy và làm thay đổi thế giới ấy chính là kết quả của Tâm Thiền mà những nhà sáng tạo vĩ đại ấy không cần biết và không cần đề cập đến hay học “Thiền”. Môn Thiền là sự khám phá từ các kết quá vận hành tốt đẹp của loài người rồi đúc kết lại và phổ biến nó ra chứ không phải những thiền sư trên trời rơi xuống ban phát cho thế giới nầy. Hay về mặt chính trị, cái tâm linh hoạt của các nhà chính trị rất phù hợp với tinh thần của Đại thừa Phật Giáo nhưng nhà chính trị ấy cũng chẵng cần học hay nghĩ đến những từ ngữ “Đại Thừa” làm gì. Trong khi hàng ngàn năm nay nhiều nhà Phật Học ăn nói rất “cao siêu” giống như trên trời rơi xuống nhưng thực chất những con người nầy đã làm ra những sản phẩm gì cho nhân loại, kể cả sản phẩm của trí tuệ và lòng thương người. Có chăng là có quá nhiều sách vở không có tác dụng gì cho cuộc sống loài người. Bây giờ các nhà tư tưởng hay học giả các tôn giáo, đặc biệt là Phật Giáo nên đánh giá trí tuệ của nhân loại để xem những gì là phù hợp với tư tưởng của Phật Giáo và tại sao họ lại được những trí tuệ, những tâm rộng lớn và linh hoạt như vậy, trong khi nhiều tổ chức Phật Giáo hay nhiều nhà Phật Học chưa thực sự làm nên điều gì đáng kể cho nhân loại nầy, hay chỉ nói cho sướng miệng. Thậm chí có nhiều triều đại ở Việt Nam và Trung Quốc còn cho rằng “các tu sĩ Phật Giáo có vẽ lười biếng hay Đạo Phật giống như Đạo lười biếng vậy, chỉ được là họ hiền.” Ví dụ nói về một cái tâm linh hoạt, rộng mở, cởi mở và hòa hợp : các hệ thống tôn giáo đã học hàng ngàn năm và thực hành theo nhiều truyền thống khác nhau với nhãn hiệu đại từ, đại bi, đại đức, tình thương cao cả.v.v... nhưng có bao nhiêu tổ chức đã hòa hợp được trong hệ thống riêng của mình và của tất cả các hệ thống tôn giáo trên thế giới. Mỗi một hệ thống tôn giáo trên thế giới và ngay cả Phật Giáo rồi cũng phải chia năm xẽ bảy, xẽ ra làm trăm như Ki-Tô-Giáo để thích nghi với sự thay đổi của con người. Chính trị và ý thức hệ là rất khó hòa hợp. Đôi khi còn tiêu diệt lẫn nhau bằng các hình thức tàn bạo nhất. Thế mà họ đã ngồi lại với nhau để bàn chuyện hòa hợp và họ hòa hợp được trong khi đó những người học về các bài học hòa hợp và thực hành đạo đức hòa hợp hàng ngàn đời nay lại chưa bao giờ là cái gương hòa hợp cho người đời noi theo. Tôi còn nhớ ngày xưa khi tôi đến thăm cố Hòa Thượng Thích Thiện Siêu ở chùa Từ Đàm, Thừa Thiên Huế. Trong cuộc tọa đàm giữa chúng tôi, Hòa Thượng có nói : “Thật đáng buồn, trong Phật Giáo chúng ta không ai chịu ai, không ai công nhận ai. Mỗi vị Hòa Thượng có một số phật tử là đệ tử của mình. Thầy trò ủng hộ với nhau và sống với nhau mà thôi.” Khuynh hướng chia rẽ nội bộ và toàn cục trên thế giới và trong lòng người ngày càng gia tăng. Nếu đâu đó có một chút hình thức hòa hợp thỉ chỉ tạm thời bằng mặt chứ không bằng lòng. Ngay như tôi có người bạn người Mỹ khá thân nhau, một hôm anh ta nói rằng chỉ có cuốn Bible là đúng nhất do Chúa tuyên phán còn những thứ kinh sách của các tôn giáo khác đều sai trái. Tôi chỉ nói nhẹ nhàng với anh bạn cực đoan ấy rằng : “Có thể anh đúng nhưng tôi chỉ tiếc có một điều là chính con người chứ không ai khác đã sử dụng cuốn Bible nầy, tức con người cầm Chúa trong tay và sử dụng Chúa theo suy nghĩ của riêng mình. Mà phần lớn các suy nghĩ của con người thì gây ra vô số xung đột trong thế giới nầy : xung đột giữa con người với nhau, giữa con người với loài vật, với cỏ cây và môi trường. Sự xung đột ấy đã đem lại bao nhiêu khổ đau cho con người và động vật, sự xung đột ấy có thể dẫn thế giới nầy đến sự hủy diệt hoàn toàn". Người bạn ấy ngồi yên khi tôi hỏi tiếp rằng : “Anh có tin vào ý nghĩ của con người không?” Sự thay đổi về đường lối chính trị và kinh tế tại một hệ thống chính trị dễ dẫn đến nội chiến hay giết chóc, thủ tiêu lẫn nhau. Thế mà họ đã làm được. Trong khi hệ thống tôn giáo tự giới thiệu bản thân mình như là biểu tượng của đạo đức siêu đẵng lại không có gì thay đổi cho phù hợp với sự chuyển hóa của xã hội. Nếu ai đó dám đề xuất hay dám làm cái gì mới chỉ vì họ thấy cần phải thay đổi để mọi người được hưởng lợi, thì lập tức bị một hệ thống cũ rích lạc hậu hè nhau lên án ngay! Đè bẹp ngay! Chúng ta thấy ngày nay mọi thứ trong cuộc sống thay đổi thay quá nhanh và quá rộng lớn. Con người buộc phải chạy theo để thích nghi chứ không thể lùi lại truy tìm những gì trong quá khứ. Chỉ khi nào chúng ta không đủ tri thức, ý chí, sự thông minh thì mới nên làm như vậy để được yên thân cho qua ngày chờ qua đời. Nhân đây tôi cũng muốn giải đáp một thắc mắc của một phật tử về tình yêu giới tính trong tu sĩ và về các vấn đề bê bối tình dục trong các tôn giáo. Sự việc bê bối tình dục trong các tu viện trên thế giới cũng được nhiều báo chí nói đến, được nhiều tòa án xét xử và một số các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng lên tiếng gay gắt. Tôi không muốn nói nhiều đến chuyện ấy, tôi muốn nói rằng hệ thống cũ cứ việc giết chết vẽ đẹp con người hơn là nâng đỡ nó. Cái quý nhất và cũng đẹp nhất ở con người là trí tuệ thông thoáng sáng tạo vô chấp và tình yêu chân chính. Tôi cho rằng có hai thứ thông minh phổ biến của loài người dễ thấy nhất đó là thông minh thuộc trí tuệ và thông minh thuộc các cảm xúc hay lòng yêu thương cao thượng và chân thành. Tôi cho rằng vai trò của tôn giáo là tạo mọi cơ hội để cho hai sự thông minh nầy phát triển, ít nhất là sự thông minh về tình thương. Tôi nói như vậy vì những người tham gia hoạt động tôn giáo đã tự nguyện từ bỏ các tham vọng sở hữu riêng cho hạnh phúc con người và họ được những tín đồ hổ trợ tài chánh và vật chất nên họ là những người có thì giờ, có trách nhiệm và cái tâm thanh thản để đóng góp việc nầy cho nhân loại. Nhưng “hệ thống cũ rích” đã làm được điều gì cho hai sự thông minh nầy. Trong thực tế có những thứ “hệ thống” cấm yêu thương dù đó là tình yêu chân thành. Tại sao một người muốn dựa vào một hệ thống tôn giáo mà họ thích để cống hiến sức lực của mình cho nhân loại lại bị cấm bộc phát tình yêu chân thành, trong sáng và cao cả? Dễ gì có nhiều chuyện tình cao cả và chân thành trên thế gian nầy. Đúng ra đã là tình yêu thì nó là cái đẹp nhất của con người và cần được trân trọng. Có nhiều loại tình yêu nhưng trong đó tình yêu thuộc về giới tính bao giờ cúng rất đẹp, đẹp không có gì để so sánh và thậm chí không nên so sánh với các thứ tình yêu khác. Tình yêu cũng không nên sắp hạng theo thứ tự thấp cao. Tôi muốn nói đến tình yêu chân thành nơi một người tu sĩ nào đó. Họ cũng là những con người, mà cái vẽ đẹp là người ấy thực sự có tình yêu với ai đó một cách thành thực. Chính tình yêu thành thực ấy là nền tảng cho con người ấy có kinh nghiệm phát triển lòng yêu thương. Chư Phật nói là các Ngài thương yêu chúng sinh như thương con đỏ. Cách nói ấy có sự liên hệ từ kinh nghiệm tình yêu của các Phật. Đức Thích Ca có cha có mẹ, có vợ có con. Tình yêu của Phật với cha mẹ, vơi vợ với con là hoàn toàn tự nhiên, thiêng liêng và thật đẹp. Từ kinh nghiệm ấy, Phật thấy chúng sanh nào cũng là quyến thuộc của mình nên Phật phát triển lòng yêu thương bình đẵng và vô tư. Chính vì thế Phật dạy các học trò rằng hãy thương chúng sanh như chính quyến thuộc của mình. Tim của Đức Phật vô tư và bình đẵng, tâm của Phật trong lành nên trí của đức Phật chiếu soi ánh sáng rực rỡ của tâm vô nhiễm và con tim bình đẵng trong yêu thương. Nhưng thay vì khám phá những viên kim cương nơi Phật để tự mình thăng hoa trong thế giới nầy, nhiều người đã kim cương hóa các chữ trong kinh. Các chữ trong kinh chiếu rực rỡ trong đầu của họ để bên trong đầy sự cao ngạo, đố kỵ và ích kỷ và chiếu soi ra ngoài như là con người đặc biệt đã mất tính người bình thường thành người lập dị, người khác thường để cho nhiều người thiếu hiểu biết phải lễ lạy lố bịch. Các hệ thống cũ rích của tôn giáo đã tạo ra sự mâu thuẩn giữa lý tưởng và tình yêu của người tu sĩ. Hiếm khi một người có được một tình yêu chân thành. Thế mà khi người tu sĩ nào có được tình yêu ấy thì lập tức bị phê phán và bị bóp chết nếu người ấy muốn duy trì lý tưởng cống hiến của mình trong hệ thống tôn giáo đó. Hệ thống đã giết chết tình yêu của con người có lý tưởng. Tôi cho rằng cần có sự chuyển đổi để bảo vệ và tôn vinh tình yêu và duy trì lý tưởng tự nguyện hiến dâng đời mình cho hạnh phúc của nhân loại nơi các tu sĩ đứng đắn. Người có tình yêu cao thượng trong giới tính không có gì mâu thuẩn với lý tưởng phụng sự nhân loại. Người tu sĩ có thể dựa vào hệ thống tôn giáo của mình để cống hiến cho nhân loại, người ấy có quyền yêu và tình yêu cần được trân trọng. Chúng ta nên coi thường những tu sĩ có những quan hệ vụng trộm về thể xác, kiên quyết phê phán và nghiêm trị những thứ quan hệ tình dục bẩn thỉu trong giới tu sĩ, và cũng cần đưa ra cho công chúng biết nữa. Nhưng ngược lại, cần trân trọng và hướng dẫn hỗ trợ cho những mối tình cao thượng trong trắng của các tâm hồn vì đó là đích thực con người là gì. Tôi tin rằng những chuyện tình cao quý nếu có nơi các tu sĩ đứng đắn không làm ô-uế cho tôn giáo mà ngược lại nó tăng thêm vẽ đẹp lộng lẫy và rất nhân bản của tôn giáo ấy. Tôi tin rằng tín đồ sẽ dễ dàng chấp nhận và quý trọng họ. 3/ Vấn đề thứ ba tôi muốn nói đến có tính tiêu cực cho sự phát triển tâm thiền là cách sử dụng từ chương các kinh sách xưa cổ. Có rất nhiều người bảo vệ cho cách học từ chương. Tôi biết có cả một vài phật tử thuộc làu cả kinh Diệu Pháp Liên Hoa rồi đi khoe khoan hiểu biết của mình. Cái đó không phải là hiểu biết, không phải là trí tuệ. Cái đó là các chữ trong kinh. Đôi khi nhờ các chữ ấy ta phát huy được trí tuệ của riêng mình, nó là tài sản riêng của mình. Ví dụ dù anh có đưa giấy chứng nhận anh là nhân viên của một ngân hàng lớn nhất thế giới thì anh cũng chỉ là nhân viên làm việc ăn lương thôi, anh không phải là chủ. Phật không muốn ai làm việc cho Phật để ăn lương của tín đồ tin Phật. Dĩ nhiên Phật không muốn ai đi bán chữ, bán lời nói của Phật để sinh sống, nhưng Phật biết điều ấy sẽ xảy ra phổ biến và không ngăn nổi. Cách sử dụng kinh điển bám theo nghĩa của từng chữ từng câu có khi góp phần làm cho tâm con người xơ cứng đơn điệu và đôi khi lố bịch. Cách sử dụng nầy không mở mang trí tuệ mà nó góp phần làm cho con người biết nhiều nầy thành người vô dụng nguy hiểm bởi người nầy có nhiều quan hệ với nhiều người khác. Cách sử dụng từ chương không hữu ích cho xã hội. Họ quá đề cao chữ nghĩa đến nỗi họ lễ lạy các chữ trong kinh sách như là những đấng linh thiêng đã đem lại cho họ quá nhiều lợi lạc vậy. Thái độ và cách sống của họ góp phần vào việc tha hóa tinh thần sáng tạo của con người. Những người nầy không biết tìm viên kim cương nằm bên dưới các dòng chữ. Lấy chữ làm kim cương và cố gắng đánh bóng các chữ thành những viên kim cương rồi tự thỏa mãn một cách lố bịch. Một trong những nguyên do cũng tại trình độ một số tín đồ hay một số người còn kém nên tôn sùng loại người chữ nghĩa nầy. Cũng giống như ngày nay còn có nhiều người mê tín dị đoan nên các loại hình mê tín dị đoan vẫn tồn tại và càng ngày càng được sáng tạo tinh vi hơn. Chung quy cũng vì có nhiều người thiếu hiểu biết và vì quyền lợi cá nhân nhỏ nhặt mà đem kinh sách biến thành thần linh nô lệ con người. Tất cả những con người vĩ đại làm thay đổi thế giới không ai là kẻ con mọt của sách vở cả. Con người nên hướng về lịch sử của những vĩ nhân đã thay đổi thế giới, trong đó có Đức Phật Thích Ca. Phật đã từ thực tế khám phá ra những điều vĩ đại góp phần thay đổi con người trở nên linh hoạt hơn, lanh lợi hơn, nhạy bén hơn, hiểu biết hơn và thông minh hơn nên con người được giảm bớt các hình thức khổ đau. Nhưng ngược lại rất nhiều người mong muốn theo con đường của Phật lại hoàn toàn đi ngược lại tinh thần của Phật. Họ chú trọng từ chương, đem các chữ trong kinh sách thờ cúng và kêu mọi người cùng nhau thờ cúng! Phật dạy con người để họ trở thành người sáng tao hơn, thì nhiều người theo Phật lại cố gắng làm những điều sĩ nhục cho Phật. Không phải thờ Phật, ca ngợi về Phật là mình trở thành tín đồ số một hay thành đệ tử số một của Phật. Chính là phải sống làm sao thể hiện trí tuệ kim cương của mình từ tinh hoa của Phật để lại. Phải như con ong đi hút hoa và cho con người mật ong quý giá. Có người “thiền sư” Phật Giáo nói với tôi rằng : “Một người theo Phật chân chính phải dùng đúng các chữ trong kinh để nói chuyện chứ không được dùng ngôn ngữ riêng của mình, dù cho có nói đúng ý kinh... Nghĩa là phải thuộc, phải dùng các chữ y như trong kinh để nói chuyện mới đúng là mình theo Phật.” Tôi thật tình không hiểu vị ấy muốn nói gì. Tôi không hiểu người ấy có xác định thật rõ ý muốn của mình, mục tiêu của mình khi quyết định theo con đường của Phật không. Người ấy có thật sự tìm hiểu về Phật không.Tôi chắc là không. Vấn đề từ chương giết chết trí tuệ, giết chết cơ hội sống thiền hay tu thiền của con người thật quá rõ ràng. Chúng ta, những người mong muốn khai phóng đại trí tuệ và lòng bi mẫn như Phật thì nên tĩnh thức với vấn đề nầy. 4/ Vấn đề cuối cùng là lối sống quá đề cao về hình thức cũng góp phần giết chết sự sáng tạo của con người. Nhiều tín đồ của các tôn giáo trên thế giới từ nhiều năm nay đã tốn kém biết bao nhiêu tiền của và thời gian để chạy theo cung phụng cho các loại hình thức tu hành. Hình thức thuộc về quần áo, hình thức tổ chức, hình thức lễ lạy, hình thức lễ cúng, hình thức cứu rỗi.v.v… Con người quá dễ bị các hình thức lôi cuốn. Các hình thức thì luôn có khuynh hướng dẫn dụ con người đi ra xa thực tại, ra xa đời sống văn hóa và văn minh của họ. Có lẽ con người rất sợ thực tại và có khuynh hướng né tránh thực tại nên mới thích chạy theo các hình thức có vẽ xa rời thực tại. Ví dụ nếu mọi người đang lễ lạy một cách cuồng tín đối với một nhân vật có vẽ quyền uy tâm linh. Trong lúc ấy, nếu người có vẽ uy quyền tâm linh cởi bỏ áo mão của mình mà thay vào đó một bộ sơ mi thường thôi thì liệu mọi người đang lễ lạy có còn đứng đó để lễ lạy tôn vinh nữa không hay chính họ lai quay ra chửi con người tội nghiệp ấy, mặc dù người ấy có đại trí tuệ, có lòng thương người rất to lớn. Con người không thích lễ lạy đại trí tuệ và đại tình thương. Đây là điều vô cùng tai hại. Chính vì thế mà những kẻ bất tài, thiếu đức đã khoác những áo quần có vẽ linh thiêng bên ngoài để đánh lừa khá thành công nhiều năm đối với xã hội. Nhiều người vô trí rất ưa chuộng lễ lạy quần áo. Những người nầy rất thích để ý đến quần áo, nón mũ. Quả thật nguy hiểm, hãy coi chừng về hình thức, trong thực tế đời thường, có những người cố ăn cho mập để bụng phệ, rổi đeo hột xoàng to nhưng giả để làm mọi người tin tưởng mình. Những kẻ trí thì biết ngay những người bụng phệ thì có nhiều thứ bệnh trong người, đặc biệt là bệnh tiểu đường. Cứ mỗi lần tôi thấy hình ảnh mà đầu óc ai đó đã cố vẽ nên một Ông Địa, một vị Phật Di-Lặc bụng phệ là tôi nghĩ ngay đến bệnh tiểu đường, hoặc cao cholesterol, hoặc bệnh dư mở trong máu hoặc cao huyết áp. Con người nên tĩnh thức với vấn đề hình thức, đừng để nó làm cho tâm mình tăm tồi không biết đâu là chân thật, đâu là giả mạo. Chính vì vậy mà mất Tâm Thiền và không có cái nhìn chính xác. Tôi có nghe câu nói rằng : “Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần”. Tôi cũng đồng ý rằng đôi khi hình thức cũng quan trọng để tỏ ra tôn nghiêm hay lịch sự trong cộng đồng. Tôi không phản đối vần đề nầy. Tôi chỉ nhắc quý vị đừng để hình thức chi phối tâm vô tư hay tâm hồn nhiên của quý vị đề quý vị được sống trong thiền, để tâm thiền tuôn chảy trong bạn. Trước khi dừng bài tóm lượt nầy, tôi mong quý vị hãy tạm liên tưởng đến mối liên hệ giữa con tim, bộ não, và năng lượng của tâm hồn, cái mà ta không thấy được nhưng nó đang tồn tại khi ta đang thở, đang suy nghĩ và đang làm việc. Khi con tim và bộ óc vận hành thì năng lượng tâm được kích hoạt. Nếu tâm ở trạng thái tĩnh lặng, thì khi được kích hoạt, tâm sẽ cho ra trí tuệ ứng xử phù hợp với hoàn cảnh đòi hỏi hoặc những cảm xúc chân thành trong sáng có tác dụng đem lại bình an. Nếu tâm không ở trạng thái tĩnh lặng thì khi được kích hoạt nó phóng ra những ý nghĩ và tình cảm nhỏ bé và mâu thuẩn với quyền lợi của con người và nó đem lại nhiều buồn phiền sau nầy. Chính khi khảo sát mối liên hệ nầy chúng ta mới nhận ra sự tai hại to lớn của những thứ có thể hủy hoại tâm như đã nêu trên. Tất nhiên là còn những thứ phải chú ý khác nhưng tôi không nêu ra trong bài nầy, vì các bạn có thể xem thêm trên website : www.daosuduytue.com Để tạm kết luận cho bài nầy, tôi lưu ý quý vị nên rất thường xuyên chú ý đến ảnh hưởng xấu của các vần đề nêu trên đối với tâm để cho tâm luôn được tươi mát, nhạy bén và sáng tạo. Bên cạnh đó các bạn cũng phải thực hành một thứ kỷ luật mà tôi tạm dùng cụm từ sau đây để chỉ nó. Cụm từ ấy là kỹ luật của tâm vô nhiễm. Kỹ luật ấy là gì? Là đừng nghĩ, nói và làm điều gì gây sự bất ổn cho tâm dù việc ấy không ai biết và nên làm những điều tăng sự bình an cho tâm và giúp thân thể điều hòa. Luôn để ý đến sự bình an của tâm và cố gắng mọi cách có thể được để gìn giữ trạng thái bình an cho tâm. Các bạn có thể dùng kỹ luật nghiêm ngặt của tâm vô nhiễm để loại trừ tất cả các thứ gì có thể gây tai hại cho tâm mình. Đây là bí quyết mà tôi đã gần như thực hiện suốt khoảng thời gian qua của cuộc đời mình và hiên nay, hàng ngày, hàng giờ tôi thực hành thứ kỹ luật nầy để tự mình bảo vệ mình và có thể gây thêm duyên lành cho nhân loại hoặc ít nhất cho những ai có nhân duyên với tôi. Tôi áp dụng kỹ luật nầy cho chính tôi để tâm thiền hay tâm đạo luôn hiện tiền. Từng lời nói, ý nghĩ, việc làm của cá nhân tôi đều dưới sự kiểm soát cũa kỹ luật nầy. Tôi mong rằng các bạn có thể có ít nhiều lợi lạc khi đọc và thực hành bài viết tóm lượt nầy. Nếu có dịp tôi sẽ triển khai thêm các vần đề cụ thể hơn, rộng hơn đối với một số ý tưởng của bài nầy. Duy Tue California ngày 26/3/2006
AABA · Lưu giữ những sự thấy và cảm hứng của Aaba.