Cư Trần Lạc Đạo
Sau ngày dự lễ trao 2.112 quyền kinh đạo Phật bằng tiếng Việt, trong đó chủ yếu là kinh Đại thừa Phật giáo cho Buddhamonthon Thailand, các Tăng ni và Phật tử từ Việt Nam về nước còn tôi ở lại nghỉ ngơi, thiền quán về vua Trần Nhân Tông Việt Nam.
Dưới đây là những nội dung làm cơ sở gợi ý cho bước đường ứng dụng Phật đạo của Ngài.
Đề tài để thiền quán: Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông.
1. Trần Nhân Tông có cần xuất gia tu hành và theo hạnh đầu đà không?
Qua các tài liệu còn lưu lại, ta được biết Ngài đã thấu hiểu con đường của Đức Phật là quay vào trong để chứng ngộ giải thoát khi Ngài 29 tuổi đang là một vị Hoàng-đế chuẩn bị đối đầu với sự xâm lược của quân phương Bắc Nguyên-Mông mạnh nhất và hung hãn nhất loài người lúc bấy giờ, cách đây khoảng gần 700 năm.
2. Nhưng khi chiến thắng quân xâm lược hung hãn Nguyên-Mông một cách anh dũng và trọn vẹn, Ngài truyền ngôi cho con là Hoàng đế Trần Anh Tông lúc Ngài mới có 36 tuổi. Trong thời kỳ làm Thái-Thượng-Hoàng, Ngài có thì giờ đắm chìm trong đạo mà nhìn ngắm thế gian. Ngài chuẩn bị cho sức sáng tạo mới mà Đại Việt đòi hỏi.
3. Sau sự thưởng thức đời sống ngộ đạo tâm này, Ngài cũng đã sẵn sàng cho cuộc hành trình mới mà người thế gian hay sống bằng con mắt thịt, bằng trí tuệ bên ngoài không thể nào hiểu nổi Ngài.
4. Ngài quyết định tự xuất gia. Tôi đến thăm nơi Ngài xuất gia xưa kia là Hành Cung Vũ Lâm và nay là huyện Vũ Lâm, tỉnh Ninh Bình. Được biết nơi này là điểm tập hợp cuối cùng của Ngài với các tướng lãnh và đại biểu các tầng lớp nhân dân để quyết định phản công quân Nguyên Mông. Sau chiến thắng ấy, Ngài quyết định trở lại thăm nơi này và quyết định tuyên bố xuất gia theo Phật. Nay còn đền thờ lưu niệm. Vừa là người đã ngộ tâm đạo, vừa là người suốt đời chỉ sống cống hiến cho dân cho nước nên việc quyết định tự xuất gia của Ngài cũng do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của Đại-Việt thời bấy giờ.
5. Việc xuất gia rất có ý nghĩa:
Thời kỳ này là thời kỳ hoà bình sau chiến thắng quân Nguyên-Mông. Con trai Ngài là Hoàng-đế Trần-Anh-Tông cũng đã có bản lĩnh trị nước nên cũng là lúc Ngài thực hiện cuộc sống thanh-thản tâm thân lúc tuổi bắt đầu xế chiều.
Sau sáu năm làm Thái-Thượng-Hoàng, Ngài cũng chuẩn bị cho cuộc thưởng thức đời sống Thánh nhân theo kiểu truyền thống Thánh nhân trên hoàn vũ. Đây là ý nghĩa sống đạo, sống bên trong, sống với tâm thanh tịnh bên trong, niết-bàn tại tâm. Đây là hình ảnh của Đức Phật.
Qua việc tự xuất gia, sống hạnh đầu đà cũng để xây dựng một đạo Phật phù hợp với văn-hoá và đạo-lý Đại-Việt còn có giá trị nhiều cho ngày nay, tức Ngài thiết kế đường lối lâu dài cho đạo Phật Việt Nam theo tinh thần đạo và đời không thể tách biệt. Qua cuộc đời, qua nhiệm vụ đòi hỏi của từng thời kỳ của dân tộc mà đạo biểu thị mình, đồng thời đời cũng nương vào đạo mà phát triển và vui hưởng một cách giải thoát niềm vui của vô thường.
Ngài tham gia đóng góp cho đời trên hình ảnh người tu sĩ đạo Phật. Ngài như vị Phật vừa hoằng-hoá độ sinh, vừa thực hiện nghĩa vụ với đời đang đòi hỏi ở Ngài. Mọi hành xử của Ngài phù hợp với đòi hỏi tự nhiên của Đại-Việt và không vì tính cách cá nhân, cũng một phần Ngài đã quá đủ cho nhu cầu cuộc sống cá nhân, Ngài không có nhu cầu nào khác ngoài thưởng thức tâm đạo trong sứ mệnh người công dân yêu nước, yêu cộng đồng của mình. Ngài quả là con chim Đại-bàng-Vương có hai đôi cánh đạo và đời hoàn chỉnh, mạnh khoẻ và lộng lẫy lạ thường!
6. Như vậy việc xuất-gia hay không xuất-gia không là vấn đề riêng của Ngài mà nghiêng về đòi hỏi của dân tộc nhiều hơn. Ngài đã biết lấy lòng dân làm lòng của Ngài như ông nội của Ngài là Hoàng-đế Trần-Thái-Tông trước kia đã làm vậy.
Do vậy nên mới có “Cư trần lạc đạo phú”.
7. Có học giả xa xưa cho rằng Ngài làm bài “Cư-trần lạc-đạo phú” trong thời kỳ làm Thái-Thượng-Hoàng. Nếu điều này là đúng thì hoá ra Ngài tự mâu thuẫn với chính Ngài sao? Vì bài này khẳng định tu hành hay sống đạo cốt lõi là ngộ bản tâm thuần khiết nơi chính mình, tức “Phật ở trong nhà chẳng phải tìm xa”. Bài này phải được làm thời Ngài đã xuất-gia, vì mọi hành vi của Ngài là để giáo dục mọi người đương thời và mai sau. Nghĩa là việc tu hành không nhất thiết phải xuất-gia hay tại gia, không nhất thiết phải sống trên núi non hay thành thị, “sở dĩ ta làm như vậy là do yêu cầu phồn vinh lâu dài của Đại-Việt đó thôi”.
8. Ngài là mẫu người giác-ngộ giải-thoát sống theo con đường của Phật. Nhưng cách thể hiện của Ngài không hoàn toàn giống Phật tổ, nhưng vị giải-thoát giác-ngộ là một. Ngài tận hưởng trong nội tâm cho riêng mình và Ngài tận hưởng bên ngoài cõi đời trong việc hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ tổ quốc và dân tộc đòi hỏi, hoàn thành một cách đầy hương vị tự tại của người đã giải-thoát. Việc thưởng thức mùi vị giải thoát cao nhất ở Ngài được thể hiện qua những ngày cuối đời và lúc từ-biệt đệ tử để đi vào sự yên nghỉ vĩnh hằng như chúng ta đã biết qua nhiều tài liệu (xem bài Đạo đức Trí tuệ Phật Trần Nhân Tông của Đ.S.D.T.).
9. Đây là mẫu người ngộ đạo, sống đạo hoàn chỉnh, tuyệt vời, hùng dũng của dân tộc Việt Nam cách nay gần 700 năm. Chưa có một vị hoàng đế nào của nhân-loại sống đẹp như vậy cho đến tận hôm nay. Người Việt-Nam cần phải làm sáng tỏ ngày một nhiều hơn di-sản văn-hoá-phi-vật thể này góp phần làm sáng tỏ đạo-đức và đạo-lý dân-tộc cho con cháu giống Việt noi theo, cũng góp phần xây dựng hướng ra cho những ai quan tâm đến đời sống đạo.
Bangkok Thailand, ngày 28/11/2001
Duy Tuệ